Chỉ bằng cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng và khơi dậy nội lực mới có thể đưa đất nước chạm tới khát vọng 2045.
“H
à Nội không vội được đâu” từng là câu nói cửa miệng của người dân Thủ đô. Nó phần nào mô tả nhịp sống từ tốn, sự kiên nhẫn cần có trước sự ùn tắc giao thông và các thủ tục hành chính. Mặc dù vậy, quan điểm đó đang dần thay đổi.
Hà Nội đang "vội", thậm chí là "rất vội". Cái vội của một đô thị đang gấp rút cho nhịp điệu tăng trưởng mới.
Hai năm trở lại đây, Hà Nội trở nên khói bụi hơn, bận rộn hơn khi khoác trên mình hình hài "đại công trường": 5 tuyến đường sắt đô thị chiến lược và mạng lưới 7 cây cầu vượt sông Hồng vừa đồng loạt được khởi công, nằm trong một tầm nhìn quy hoạch 100 năm đang được hiện thực hóa bằng nhịp độ hối hả chưa từng có.
Song song với những dầm bê tông và các tuyến vành đai xuyên tâm, thành phố cũng mạnh tay khai tử hàng trăm dự án treo kéo dài hàng thập kỷ để giải phóng đất đai đang bị lãng phí.
Bên trong những tòa nhà hành chính, tư duy quản lý lối cũ đã nhường chỗ cho mô hình chính quyền kiến tạo, nơi hiệu suất được định lượng và đánh giá bằng hệ thống KPI và mô hình quản trị OKR nghiêm ngặt. Với phương châm 6 rõ (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả, rõ thẩm quyền), mỗi điểm nghẽn về hạ tầng hay rào cản thể chế đều bị đặt vào một lộ trình xử lý căn cơ, không còn chỗ cho sự chậm trễ hay bị động ứng tiếp.
Hà Nội đang khoác trên mình hình hài "đại công trường" với những quyết sách khẩn trương giải quyết triệt để điểm nghẽn hạ tầng. Ảnh: Hoàng Anh
Những gì diễn ra tại Thủ đô đang phản ánh một chuyển động rộng lớn hơn của quốc gia, khi tư duy phát triển đang được chuyển hóa từ những nghị quyết chiến lược đến các quyết định cụ thể trong quản trị và đầu tư.
Cột mốc lịch sử và giới hạn của "quân bài" cũ
Cùng lúc với những mố cầu đang dựng lên ở Tứ Liên hay Trần Hưng Đạo, Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố, Việt Nam, với GNI bình quân đầu người đạt 4.970 USD trong năm 2025, chính thức bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.
Đây là một trong những cuộc hẹn đúng giờ hiếm hoi trong lịch sử hoạch định chính sách. Nghị quyết Đại hội XIII, thông qua năm 2021, từng đặt mục tiêu cụ thể cho đúng năm 2025 là “vượt qua mức thu nhập trung bình thấp”, với GDP bình quân đầu người dự kiến khoảng 4.700 - 5.000 USD. Và để đạt cột mốc lịch sử, Việt Nam đã trải qua giai đoạn tăng trưởng vượt bậc. Ước tính, trong 5 năm (2021 - 2025), GNI Việt Nam đã tăng trưởng trung bình khoảng 10% mỗi năm.
“Đó là một trong những chuỗi tăng trưởng bền vững nhất trong khu vực, được thúc đẩy bởi mô hình dẫn dắt bởi xuất khẩu, quốc gia này chứng kiến xuất khẩu tăng vọt hơn 15% trong cả hai năm 2024 và 2025”, báo cáo của World Bank nhận định.
Mặc dù vậy, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, người từng là thành viên của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng đánh giá, những con số tăng trưởng “mới chỉ là cột mốc về mặt thống kê”.
Bà Lan không phủ nhận thành tích, song cũng chỉ ra rằng, nhược điểm của Việt Nam cơ bản vẫn dựa theo cách tăng trưởng cũ, trông chờ vào lợi thế so sánh về lao động giá rẻ, về việc tiếp nhận được rất nhiều đầu tư nước ngoài nhưng chủ yếu làm gia công, giá trị gia tăng thấp.
Những con số thống kê phần nào phản ánh điều này. Năm 2025, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 365,7 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu 475 tỷ USD của Việt Nam, tương đương 77%. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp trong nước chỉ mang về 108 tỷ USD, giảm 6,1% so với năm trước, ngay giữa lúc bức tranh xuất khẩu chung lập kỷ lục.
Bức tranh Kỷ lục & Khoảng trống Nội lực
Cơ cấu xuất khẩu Việt Nam 2025 (Tổng: 475 Tỷ USD)
77%
23%
365.7 Tỷ USD
Khu vực FDI
108.0 Tỷ USD
Khối Nội địa
Sự sụt giảm 6,1% của khối nội địa ngay giữa kỷ lục xuất khẩu cho thấy thực trạng gia công giá trị thấp. Các doanh nghiệp trong nước đang dần hụt hơi và mất đi vai trò tự chủ trên chính sân nhà.
Cùng với chất lượng tăng trưởng, những khoảng trống của phát triển cũng ngày càng bộc lộ rõ hơn. Khoảng cách thu nhập giữa các vùng miền vẫn lớn. Chuyển đổi xanh còn ở giai đoạn đầu. Kinh tế tuần hoàn chưa vượt qua quy mô thí điểm. Biến đổi khí hậu tạo ra những sức ép chưa từng có đối với đồng bằng sông Cửu Long, dải ven biển miền Trung và cả các vùng trung du, miền núi.
Đồng quan điểm về việc cần nhìn thẳng thắn vào chất lượng tăng trưởng, GS. Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật Bản), chuyên gia tư vấn chiến lược cấp cao cho Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản nhận định, quy mô đầu tư phải lớn và quy mô doanh nghiệp phải lớn mới có thể thực hiện được những đổi mới sáng tạo cốt lõi.
Thế nhưng, hiện trạng của khu vực tư nhân Việt Nam lại đang cho thấy một sự manh mún đáng lo ngại, khiến năng suất toàn xã hội bị kéo tụt.
Nghịch lý quy mô của Kinh tế tư nhân
82%
Tổng lao động có việc làm nằm ở khu vực ngoài Nhà nước.
740.000
Doanh nghiệp, nhưng có tới hơn 490.000 là siêu nhỏ và 5 triệu hộ kinh doanh cá thể.
"Vì manh mún, nhỏ bé... đại bộ phận không có năng lực cạnh tranh, không tham gia vào các chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng toàn cầu." - GS. Trần Văn Thọ.
Từng nhiều năm tham vấn cho Chính phủ, bà Phạm Chi Lan khẳng định, điều Việt Nam cần hướng tới không phải là một mức thu nhập cao được tạo nên từ những lợi thế cũ hay từ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài.
"
Chúng ta phải là chủ thể của sự phát triển và làm chủ vận mệnh của mình.
— Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan
Báo cáo của World Bank phần nào đồng tình với nhận định này, khi khuyến nghị Việt Nam chuyển từ mô hình dựa vào tích lũy yếu tố sản xuất và tín dụng ngân hàng, sang mô hình dựa vào tăng trưởng năng suất, thị trường vốn sâu hơn, và FDI chất lượng cao hơn.
Một mô hình tăng trưởng mới đòi hỏi chuyển biến mạnh mẽ về năng suất nội tại và hạ tầng cơ sở liên kết vùng. Ảnh: Hoàng Anh
Đây cũng được xem là điều kiện bắt buộc để Việt Nam bước tiếp trên chặng đường còn dài hơn nhiều so với những gì vừa đi qua. Mục tiêu kế tiếp trở thành nước phát triển, thu nhập cao được lãnh đạo Đảng và Chính phủ ấn định cho năm 2045, tức còn khoảng hai mươi năm.
8-10%
Ước tính, dựa trên ngưỡng GNI được World Bank công bố là 14.375 USD/người và giả định lạm phát trung bình khoảng 2,5%/năm, Việt Nam sẽ cần tăng trưởng liên tục khoảng 8 – 10% mỗi năm trong suốt 20 năm tới, không gián đoạn.
Một giả định khó khăn khi tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế mở như Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Trong 5 năm qua, với những quân bài cũ, Việt Nam đã kiên cường duy trì được nhịp độ, nhưng để kéo dài tốc độ đó thêm 20 năm là câu chuyện hoàn toàn khác.
Hồi cuối tháng 5/2026, tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về đánh giá nguồn lực phát triển đất nước gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và xác lập mô hình tăng trưởng mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định đất nước đang có những nền tảng lớn, quan trọng để bước vào giai đoạn phát triển cao hơn.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, để đạt mục tiêu Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 đặt ra, cần thay đổi căn bản cách thức tổ chức, vận hành các nguồn lực phát triển.
"Tăng trưởng hai con số không thể là kết quả của mô hình tăng trưởng cũ được kéo dài thêm", ông nhận định, đồng thời chỉ ra trọng tâm là cơ chế huy động, phân bổ, sử dụng và chuyển hóa nguồn lực; không phải chỉ hỏi chúng ta có nguồn lực gì, mà phải hỏi cơ chế nào để nguồn lực đi vào phát triển.
"
"Tăng trưởng hai con số không thể là kết quả của mô hình tăng trưởng cũ được kéo dài thêm."
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Góc nhìn toàn cảnh định hình không gian phát triển mới. Những quyết sách lớn cần một tầm nhìn dài hạn và quy hoạch vượt không gian. Ảnh: Hoàng Anh
Mười Nghị quyết - Một liên minh phát triển
Giáo sư Trần Văn Thọ tại Đại học Waseda (Nhật Bản), chuyên gia tư vấn chiến lược cấp cao cho Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời là tác giả của nhiều cuốn sách giá trị về kinh tế và phát triển quốc gia nhìn nhận, một nền kinh tế chỉ thực sự làm chủ được vận mệnh khi tăng trưởng được nuôi dưỡng bởi nội lực.
Nội lực ấy nằm ở quy mô thị trường hơn 100 triệu dân, ở khả năng chuyển dịch lao động sang những ngành có năng suất cao hơn, thúc đẩy công nghiệp hóa theo chiều sâu để giữ lại nhiều giá trị hơn trong nước và xây dựng sức cầu nội địa đủ mạnh để trở thành một động lực tăng trưởng bên cạnh xuất khẩu.
Thực tế, những định hướng này không mới. Từ hơn một thập niên trước, Báo cáo Việt Nam 2035 được công bố vào năm 2016 đã chỉ ra ba trụ cột chính của một quốc gia phát triển gồm: Thịnh vượng kinh tế đi cùng phát triển bền vững; một xã hội công bằng và hòa nhập; cùng một nhà nước có năng lực và trách nhiệm giải trình cao.
3 Trụ cột của quốc gia phát triển
Báo cáo Việt Nam 2035 — Chọn một trụ cột để xem chiến lược chi tiết
01.
Thịnh vượng Kinh tế
Khám phá →
02.
Xã hội Công bằng
Khám phá →
03.
Nhà nước Năng lực
Khám phá →
Theo cách tiếp cận này, cải cách thể chế là nền tảng để khơi thông nguồn lực và bảo đảm hai trụ cột còn lại có thể vận hành hiệu quả.
Tròn một thập kỷ kể từ khi báo cáo ra mắt, Việt Nam đang gấp rút đi theo lộ trình cải cách mang tính hệ thống, từng bước xây dựng các điều kiện để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển. Một quãng thời gian mà theo ông Thọ, là “giai đoạn tiền đề trước khi Việt Nam thực sự bứt phá vào năm 2030”.
Trong giai đoạn đó, dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, chỉ trong hai năm, Bộ Chính trị đã ban hành 10 nghị quyết được xem là trụ cột, phủ gần như toàn bộ các lĩnh vực của nền kinh tế: Nghị quyết 57 về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết 66 về thể chế, Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân, nghị quyết về hội nhập quốc tế, cùng các nghị quyết tiếp theo về giáo dục, về chăm sóc sức khỏe, về doanh nghiệp nhà nước, và gần đây nhất, Nghị quyết 10 về đầu tư nước ngoài, ban hành tháng 6/2026, chuyển tư duy từ "thu hút đầu tư" sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”.
Hệ thống Nghị quyết trải rộng trên mọi lĩnh vực gửi đi một thông điệp thống nhất: Vươn mình phải là sản phẩm của một liên minh phát triển quốc gia, nơi tập hợp mọi nguồn lực cùng phát triển.
Trong đó, Nhà nước phải kiến tạo thể chế, không dừng ở ban hành chính sách, mà dọn đường cho các mô hình kinh tế mới. Doanh nghiệp tư nhân kiến tạo của cải, giảm phục thuộc vào FDI, chủ động giành lấy phần giá trị gia tăng. Khoa học công nghệ kiến tạo năng suất, với mục tiêu đưa tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng từ khoảng 45,7% (mức đạt trước Covid) lên trên 55% vào năm 2030. Và cuối cùng, 100 triệu người Việt Nam kiến tạo sức lao động, sáng tạo.
Liên Minh Phát Triển
Nhà nước
Kiến tạo thể chế, không dừng ở ban hành chính sách mà dọn đường cho các mô hình kinh tế mới.
Doanh nghiệp tư nhân
Kiến tạo của cải, giảm phụ thuộc vào FDI, chủ động giành lấy phần giá trị gia tăng.
Khoa học công nghệ
Kiến tạo năng suất, mục tiêu đưa đóng góp của TFP vào tăng trưởng vượt ngưỡng 55% năm 2030.
100 triệu người dân
Kiến tạo sức lao động và sự sáng tạo không ngừng nghỉ trên hành trình bứt phá.
Cải cách thể chế được đặt ở vị trí trung tâm của chương trình phát triển. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy với việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống còn 34 địa phương và tiếp tục tổ chức lại hơn 6.700 đơn vị hành chính cấp xã được triển khai quyết liệt hướng tới tái phân bổ nguồn lực quản trị.
Song song với đó là quá trình chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cắt giảm hàng nghìn thủ tục hành chính và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng minh bạch, ổn định và dễ dự báo hơn.
63 → 34
Đơn vị hành chính cấp tỉnh được tinh gọn
38,5 Triệu tỷ
Nhu cầu vốn đầu tư 2026-2030
Những thay đổi về thể chế cũng mở đường cho chu kỳ đầu tư hạ tầng quy mô lớn. Hàng loạt công trình trọng điểm như đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, hệ thống metro tại Hà Nội và TP.HCM cùng các dự án hạ tầng năng lượng và hạ tầng số… cho thấy Việt Nam đang tái cấu trúc không gian phát triển, giảm chi phí logistics, tăng tính kết nối giữa các vùng.
Những công trình nghìn tỷ đang được khẩn trương thi công. Một hệ sinh thái giao thông đang dần thành hình trong nhịp độ hối hả chưa từng có.
Để không bỏ lỡ "chuyến tàu cuối"
Nếu Việt Nam vừa có lần đầu bước chân vào nhóm thu nhập trung bình cao, thì có những quốc gia đã ở đây rất lâu, thậm chí chạm một chân vào ngưỡng cửa phát triển nhưng lại mãi không thể chạm tới.
Thách thức vượt bẫy thu nhập trung bình
GNI Bình quân (USD/Người)
Malaysia, với GNI bình quân đầu người 12.380 USD chỉ còn cách ngưỡng thu nhập cao một quãng ngắn, nhưng “quãng ngắn” này đã kéo dài tới 22 năm. Thái Lan, ở mức GNI bình quân đầu người 7.690 USD, cũng đã ở nhóm thu nhập trung bình cao nhiều thập kỷ. Brazil và Nam Phi thậm chí đã trở thành kinh điển, xuất hiện trong các giáo trình kinh tế như một ví dụ điển hình của bẫy thu nhập trung bình.
Những lợi thế từng đưa một quốc gia đến ngưỡng cửa này như nhân công giá rẻ, dòng vốn ngoại và vị trí gia công trong chuỗi cung ứng toàn cầu đều đã tới giới hạn, trong khi năng lực để tạo ra làn sóng tiếp theo là công nghệ, thể chế, năng suất nội tại lại chưa kịp lớn lên thay thế. Hệ quả, cả quốc gia đó mắc kẹt lại trong chính mô hình từng giúp mình bứt phá.
Nó cũng cho thấy, ranh giới giữa thu nhập trung bình cao và một quốc gia phát triển không nằm ở việc vượt qua một con số thống kê, mà ở chất lượng đằng sau con số đó.
“Vượt qua mức thu nhập trung bình thấp để tiến lên thu nhập trung bình cao là một hành trình gian nan, nhưng chúng ta đã làm được và đang hướng tới những mục tiêu lớn hơn cho năm 2030 và 15 năm tiếp theo. Để đạt được mục tiêu đó, giai đoạn tới đòi hỏi một sự phấn đấu quyết liệt hơn rất nhiều, với sự thay đổi cơ bản về chất lượng phát triển. Đây chính là lý do Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng thuần túy sang định hình một mô hình phát triển toàn diện”, bà Lan nhìn nhận.
Đặt cạnh bài học Malaysia là một giới hạn về thời gian mà Việt Nam không thể tự quyết. Theo Cục Thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 65 triệu người trong độ tuổi lao động, đứng ở đỉnh của thời kỳ dân số vàng. Tuy nhiên, giai đoạn ấy được dự báo khép lại vào năm 2036. Việt Nam chỉ còn khoảng một thập niên cuối của thời kỳ dân số vàng trước khi bước vào giai đoạn già hóa. Nói cách khác, đây có thể là “chuyến tàu cuối” cho hành trình tăng trưởng của Việt Nam.
⚠️ Áp lực thời gian & Dân số vàng
Ngay từ Báo cáo Việt Nam 2035, các chuyên gia đã sớm nhìn thấy vấn đề này và khuyến nghị dành mười năm đầu để tập trung cải cách thể chế, xây dựng nền tảng cho giai đoạn tăng tốc tiếp theo. Thế nhưng, phần lớn quãng thời gian ấy đã trôi qua trước khi cải cách thể chế thực sự được đặt vào vị trí trung tâm.
Việc xác định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” cùng với quá trình tinh gọn bộ máy, phân cấp, phân quyền và đổi mới phương thức quản trị hiện nay, vì thế không chỉ mang ý nghĩa cải cách. Theo bà Lan, đó còn là nỗ lực tăng tốc để bù đắp quỹ thời gian đã mất, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
"
Nếu quyết tâm tiến hành ngay các cải cách và có chính sách thích hợp trong 4-5 năm tới, tăng trưởng hai con số hoàn toàn có thể thực hiện trong thập niên 2030.
— GS. Trần Văn Thọ
Để dọn đường cho giai đoạn bứt tốc lịch sử vào thập niên 2030, GS. Trần Văn Thọ đã chỉ ra 4 vấn đề mang tính quyết định mà Việt Nam phải phá vỡ và cải cách triệt để trong những năm tới.
Khuyến nghị chiến lược
4 Điểm nghẽn cần phá vỡ để tăng trưởng hai con số
01
Công nghiệp hóa sâu rộng
Thoát bẫy gia công. Mở rộng vào chế biến thực phẩm, ô-tô, vi mạch bán dẫn. Đào sâu công nghiệp hỗ trợ để làm chủ chuỗi cung ứng, thay thế hàng nhập khẩu.
02
Quy mô hóa kinh tế tư nhân
Chính quy hóa 5 triệu hộ kinh doanh. Có chính sách để doanh nghiệp lớn dắt tay SME, đầu tư mạnh vào R&D vì "quy mô doanh nghiệp phải lớn mới có thể đầu tư lớn".
03
Nâng cấp nguồn nhân lực
Chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp. Xóa bỏ tỷ lệ 61,2% lao động học vấn thấp bằng cách đào tạo hàng loạt thợ chuyên môn và quản lý cấp trung gắn với công nghệ.
04
Khơi thông vốn & đất đai
Cải cách thị trường yếu tố sản xuất. Xóa bỏ bất lợi vay vốn của khối SME so với khối FDI/DNNN, giúp nguồn lực chảy thẳng vào những khu vực có năng suất cao nhất.
Dẫu vậy, sau tất cả những cảnh báo, bà Phạm Chi Lan và ông Trần Văn Thọ vẫn lạc quan. Điều khiến vị chuyên gia tin tưởng không nằm ở những chỉ tiêu tăng trưởng hay các dự án quy mô lớn, mà là những chuyển động đang diễn ra ở nhiều tầng nấc của nền kinh tế, từ sự chủ động của bộ máy quản lý đến tinh thần dấn thân của cộng đồng doanh nghiệp.
“Mặc dù vẫn có những trăn trở, những lo ngại, nhưng nhìn chung là tôi tin. Tôi tin vì khi thực hiện quyết liệt như thế này, lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng sẽ dần phát hiện được cả những cái đúng và những cái chưa thật chuẩn, và sẵn sàng điều chỉnh. Cái cần nhất là một bộ máy lãnh đạo có khả năng nhìn thấy cái chưa đúng của mình để điều chỉnh cho hợp lý hơn”, bà Lan nhấn mạnh.
Đó có lẽ là điều kiện cuối cùng, ít được nói tới nhất, cho toàn bộ phép tính hai mươi năm phía trước: không chỉ là làm đúng, làm nhanh, mà còn là giữ được sự bình tĩnh cần thiết để điều chỉnh liên tục, thay vì hoảng loạn hay tự mãn trước từng con số thống kê.
Hà Nội đang hối hả, cả quốc gia cũng hối hả. Nhưng vậy thôi là chưa đủ.
Mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng hay quy mô đầu tư. Quan trọng hơn là khả năng duy trì tinh thần đổi mới, khơi dậy được sức sáng tạo của 100 triệu dân và hiện thực hóa một "Liên minh phát triển" vững chắc.
Tổng tài sản của 27 ngân hàng niêm yết tăng gần 1 triệu tỷ đồng chỉ trong quý II/2026. Tín dụng là động lực chính của sự mở rộng này, nhưng khoảng cách ngày càng lớn giữa tăng trưởng cho vay và tiền gửi cho thấy phần khó của cuộc đua tăng trưởng đang chuyển dần từ phía tài sản sang phía nguồn vốn.
Đằng sau hành trình Go Digital – Go Global của Masan không chỉ là những khoản đầu tư vào công nghệ hay mở rộng kinh doanh, mà còn là chiến lược đầu tư dài hạn vào con người.
Từ quy hoạch đô thị xanh, phát triển nhà ở đáp ứng nhu cầu ở thực đến hoàn thiện mô hình quản trị theo tiêu chuẩn ESG, Nam Long đang từng bước xây dựng nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Tòa soạn trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 3/9/2026.
Bước ngoặt mở rộng địa giới hành chính mang lại cho TP. Đà Nẵng lợi thế phát triển chưa từng có khi đưa toàn bộ vùng nguyên liệu nông thôn rộng lớn và hạ tầng du lịch nghỉ dưỡng cao cấp về chung một địa bàn quản lý.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, khi chủ quyền không chỉ là đất, biển, trời, mà còn được mở rộng ra không gian số, cũng như năng lực tự chủ công nghệ.
Theo tân Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TP.HCM Mai Hữu Tín, đây là “khoảng thời gian lịch sử” để doanh nghiệp vươn tầm về quy mô, làm chủ công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Không còn dừng lại ở những cơ chế đặc thù nặng tính "xin - cho", cục bộ, sự kết hợp giữa Luật Phát triển đô thị và quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm đang thiết lập một cấu trúc kinh tế hoàn toàn mới cho sự phát triển đột phá của TP. HCM, với vai trò dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới.
Hội đồng Công trình xanh Hoa Kỳ (USGBC) ghi nhận dự án 27-29 Lý Thái Tổ là một mô hình tiêu biểu về phát triển bền vững, đồng thời thể hiện nỗ lực của Gelex trong việc thúc đẩy chuyển đổi ngành xây dựng theo hướng xanh hơn.
Khung giá phát điện cũ chưa theo kịp chi phí đầu tư cùng những thay đổi trong chính sách hoàn thuế xuất khẩu sẽ ảnh hưởng lớn tới phương án tài chính của các dự án điện mặt trời nổi.
Miền Bắc tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm sản xuất công nghệ cao của Việt Nam khi thu hút phần lớn dòng vốn FDI sản xuất mới trong nửa đầu năm 2026.