Leader talk

Bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam 2026: Kỳ vọng gì từ 'Cải cách 2.0'?

Nam Hải - 20/01/2026 13:16 (GMT+7)

Năm 2026 mở ra với mục tiêu tăng trưởng tham vọng, song nền kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt nhiều thách thức về lạm phát, lãi suất, tỷ giá và chất lượng dòng vốn.

Bức tranh vĩ mô 2026 được dự báo nhiều biến động. Ảnh: SHS

Trong báo cáo chiến lược "Vó ngựa thời vận 2026", Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (SHS) nhấn mạnh vai trò của "Cải cách 2.0" như một phép thử quan trọng cho năng lực chuyển hóa chủ trương thành hành động.

Trao đổi với The LEADER, ông Nguyễn Minh Hạnh, Giám đốc phân tích chứng khoán SHS đã có những chia sẻ chi tiết về bức tranh kinh tế và chiến lược đầu tư trong bối cảnh mới.

Vĩ mô 2026: Chấm dứt kỷ nguyên "tiền rẻ", thận trọng với tỷ giá

Thưa ông, SHS đánh giá thế nào về bức tranh vĩ mô năm 2026, đặc biệt là các biến số nhạy cảm như lạm phát, lãi suất và tỷ giá?

Ông Nguyễn Minh Hạnh: Bước vào năm 2026, kinh tế Việt Nam đan xen mảng sáng tối. Dư địa tăng trưởng mở ra nhưng các giới hạn cũng rõ ràng hơn.

Về lạm phát, chúng tôi kỳ vọng mặt bằng giá ổn định trong ngưỡng mục tiêu do cầu nội địa phục hồi chậm. Tuy nhiên, cần phân tách rõ cấu phần lạm phát: Đô thị chịu áp lực từ nhà ở, dịch vụ; nông thôn chịu áp lực từ lương thực. Chính sách điều hành cần "nhắm trúng đích" để tránh phản ứng thái quá.

Về lãi suất: Mặt bằng lãi suất thấp đã qua và khó quay lại trong năm 2026. Gốc rễ vấn đề nằm ở lệch kỳ hạn cân đối (Maturity Mismatch). Bên cạnh đó, nhu cầu vay vốn ngân sách năm 2026 rất lớn khi chi đầu tư công tăng xấp xỉ 23% sẽ đẩy lợi suất trái phiếu Chính phủ lên cao, đặc biệt ở kỳ hạn 10 năm. Chi phí vốn cao hơn sẽ là "bình thường mới"

Tỷ giá VND/USD hiện được đang vận động trong biên đi ngang từ 26.200-26.400 đồng. Tuy nhiên, rủi ro tỷ giá có thể tăng lên vào khoảng Quý II/2026 hoặc giai đoạn giữa năm đổ ra, khi tín dụng vẫn phải được đẩy mạnh để hỗ trợ tăng trưởng.

Điều này đồng nghĩa định giá tài sản tài chính sẽ thận trọng hơn. Thị trường chứng khoán 2026 sẽ không còn chạy theo kỳ vọng P/E tăng nhờ lãi suất giảm, mà sẽ vận động theo chiều sâu, phản ánh sức khỏe nội tại doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Minh Hạnh – Giám đốc trung tâm phân tích SHS. Ảnh: SHS

Trong báo cáo chiến lược 2026 mới đây, SHS đề cập nhiều tới vấn đề thanh khoản và dòng tiền đầu tư. Đâu sẽ là thách thức lớn nhất của dòng tiền trong năm tới, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Hạnh: Thanh khoản năm 2026 phụ thuộc lớn vào sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ. Năm 2025, ngân sách nhà nước thặng dư khá lớn, bội thu xấp xỉ 250.000 tỷ đồng.

Khoản chênh lệch thu chi này khiến một lượng tiền khổng lồ của Kho bạc đặt tại NHNN (TGA Account: xấp xỉ 750.000 tỷ đồng). Khi Kho bạc chậm giải ngân, tiền đọng lại ở ngân hàng, thanh khoản rất dồi dào; đến khi giải ngân vốn đầu tư tăng tốc, tiền rút ra nhanh, thanh khoản hệ thống đột ngột co lại.

Chúng tôi cho rằng rủi ro thanh khoản cần được xử lý bằng các biện pháp kỹ thuật và phối hợp chính sách.

Một điểm nghẽn nổi cộm là cách tính tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (LDR) đối với tiền gửi Kho bạc. Hiện chỉ khoảng 20% tiền gửi Kho bạc tại 4 ngân hàng lớn được tính vào tỷ lệ LDR, và quy định này sẽ hết hiệu lực cuối 2025.

Trong bối cảnh Kho bạc vẫn duy trì lượng tiền gửi rất lớn, tôi nghĩ cần tính 100% tiền gửi Kho bạc vào LDR để “gỡ nút thắt” kỹ thuật, tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn trong giai đoạn tới.

Về bản chất, đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật ngân hàng thuần túy, mà là chìa khóa để duy trì thanh khoản hệ thống ổn định, yếu tố then chốt cho tâm lý và dòng tiền cho nền kinh tế nói chung và thị trường vốn nói riêng năm 2026.

"Cải cách 2.0" cần những hành động thực chất

Báo cáo “Vó ngựa thời vận 2026” coi Cải cách 2.0 là kỳ vọng lớn nhất cho tăng trưởng. "Cải cách 2.0" cần những điều kiện gì để tạo chuyển biến thực sự thay vì chỉ dừng ở khẩu hiệu?

Ông Nguyễn Minh Hạnh: Đây là một chương trình cải cách toàn diện mà Chính phủ đề ra, tập trung vào việc làm mới các động lực tăng trưởng, với trọng tâm là phát triển khu vực tư nhân, tinh gọn bộ máy hành chính và sáp nhập những đầu mối trùng lặp.

Nói cách khác, Cải cách 2.0 hướng tới tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế, giảm bớt giấy phép con, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơn để doanh nghiệp tư nhân mạnh dạn đầu tư, mở rộng hoạt động.

Nếu thực thi hiệu quả, cải cách này sẽ giảm ma sát chi phí cho doanh nghiệp thông qua cắt giảm thủ tục, chi phí tuân thủ, từ đó khuyến khích khu vực tư nhân nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng.

Tuy nhiên, để Cải cách 2.0 thực sự trở thành động lực tăng trưởng thực chất, cần hội tụ 3 điều kiện quan trọng.

Trước hết, đó là sự kiên trì và tín hiệu rõ ràng. Đầu tiên phải nhấn mạnh đây là chặng đường dài, hiệu quả không thể đến “một sớm một chiều”.

Điều kiện tiên quyết là Chính phủ cần quyết liệt và kiên trì trong thực thi, bảo đảm rằng cam kết cải cách được biến thành hành động nhất quán qua thời gian, không “đầu voi đuôi chuột”, khơi dậy niềm tin, giúp doanh nghiệp tin tưởng có thể dựa vào cải cách để lên kế hoạch dài hạn.

Thứ hai, cần những hỗ trợ vi mô cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Cải cách 2.0 chỉ phát huy tối đa tác dụng nếu đi kèm các hỗ trợ vi mô nhằm nhanh chóng “hồi sức” khu vực tư nhân (đặc biệt là DNNVV).

Năm vừa qua, xương sống nền kinh tế, các DNNVV, đang suy yếu, nên cải cách vĩ mô cần song hành với những chương trình hỗ trợ trực tiếp để họ trụ vững qua giai đoạn chuyển đổi.

Thứ ba là kỷ luật trong đầu tư công. Hiện Chính phủ đang đẩy mạnh đầu tư công và đây là hướng đi hợp lý nhằm bù đắp cho tư nhân còn yếu. Nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào kỷ luật lựa chọn dự án.

Bài học từ Trung Quốc cho thấy nếu đầu tư công dàn trải, chạy theo thành tích ngắn hạn thì hệ quả là dư thừa công suất, tạo ra những “voi trắng” (dự án hạ tầng ít được sử dụng) rất lãng phí.

Vì thế, điều kiện ở đây là Cải cách 2.0 phải đi đôi với một chính sách tài khóa thận trọng, tập trung vào các dự án mang lại giá trị thật, tránh sa vào bẫy tăng trưởng “số lượng mà không chất lượng”.

Theo ông, những chỉ dấu chính sách nào cần được phát đi sớm để củng cố niềm tin của doanh nghiệp và thị trường?

Ông Nguyễn Minh Hạnh: Chính phủ nên sớm công bố các mục tiêu định lượng về cải cách thủ tục hành chính, chẳng hạn cam kết cắt giảm bao nhiêu thủ tục kinh doanh, rút ngắn bao nhiêu phần trăm thời gian cấp phép trung bình, hoặc kế hoạch sáp nhập, tinh giản những cơ quan có chức năng trùng lặp.

Khi các mục tiêu này được tuyên bố công khai, cộng đồng doanh nghiệp sẽ thấy rõ lộ trình cải cách và yên tâm rằng môi trường kinh doanh sắp chuyển biến tích cực.

Bên cạnh đó, cải thiện công tác truyền thông chính sách cũng là một “tín hiệu mềm” nhưng rất quan trọng. Năm 2025, trên thị trường từng bao phủ bởi không ít tin đồn thất thiệt, gây tâm lý hoang mang.

Điều này cho thấy nhu cầu về một cơ chế forward guidance (định hướng chính sách) từ phía nhà điều hành phải thật minh bạch và rõ ràng. Khi thị trường có thông tin minh bạch, nhất quán từ chính sách, không gian cho tin đồn sẽ thu hẹp, niềm tin sẽ được củng cố.

Một động thái nhỏ như tổ chức họp báo định kỳ về kinh tế vĩ mô, hoặc công khai các báo cáo định hướng chính sách và luôn dành thời lượng cho Q&A trong chương trình cũng mang lại tác động tích cực lên tâm lý thị trường.

"Bẫy số liệu" xuất khẩu và bài toán nội địa hóa

Xuất khẩu hiện phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, chiếm hơn 76% kim ngạch, trong khi giá trị gia tăng nội địa còn thấp. Theo ông, rủi ro vĩ mô từ cấu trúc này trong năm 2026 là gì và Việt Nam cần có kế hoạch gì để xử lý?

Ông Nguyễn Minh Hạnh: Thoạt nhìn, bức tranh xuất khẩu 2025 rất ấn tượng: tổng kim ngạch xuất khẩu dự kiến vượt 475 tỷ USD, tăng khoảng 16% so với 2024, đưa Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm nền kinh tế có độ mở cao hàng đầu thế giới. Việt Nam thậm chí thặng dư thương mại năm thứ mười liên tiếp (khoảng 20 tỷ USD năm 2025).

Tuy nhiên, ẩn sau những con số đẹp đó là “bẫy số liệu” mà chúng tôi đã cảnh báo. Phần đóng góp của khu vực doanh nghiệp trong nước vào xuất khẩu vẫn khá khiêm tốn: tháng cuối 2025, khu vực có vốn FDI chiếm tới ~79% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực trong nước chỉ khoảng 21%.

Khu vực có vốn FDI chiếm tới ~79% kim ngạch xuất khẩu. Ảnh: Hoàng Anh

Rủi ro lớn nhất là sự phụ thuộcgiá trị gia tăng thấp. Nếu chuỗi cung ứng dịch chuyển hoặc bị áp thuế phòng vệ thương mại (do tỷ lệ nội địa hóa thấp), kinh tế Việt Nam sẽ chịu tổn thương ngay lập tức.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng nhấn mạnh yếu tố xuất xứ và giá trị gia tăng nội địa, những ngành xuất khẩu có tỷ lệ nội địa hóa thấp sẽ dễ bị tổn thương trước các thay đổi về chính sách thuế quan của đối tác.

Chúng ta từng chứng kiến bài học “chuyển tải bất hợp pháp”: khi Mỹ áp thuế cao lên hàng Trung Quốc, một phần dòng hàng hóa chuyển hướng qua Việt Nam để né thuế, đẩy kim ngạch xuất khẩu của ta lên cao trong ngắn hạn.

Song ngay lập tức, Mỹ và Việt Nam đã phải phối hợp để kiểm soát chặt xuất xứ, ngăn chặn hàng Trung Quốc đội lốt "Made in Vietnam". Điều đó cho thấy nếu chuỗi cung ứng nội địa mỏng, phụ thuộc linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu, hàng xuất khẩu của ta rất dễ vướng vào các biện pháp phòng vệ thương mại từ nước ngoài.

Rủi ro vĩ mô còn thể hiện ở chỗ cấu trúc xuất khẩu hiện nay chưa tạo được nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta chủ yếu tham gia ở khâu lắp ráp, gia công cuối cùng, giá trị nội địa trên một đơn vị hàng xuất khẩu còn thấp.

Do vậy, dù xuất khẩu nhiều nhưng lợi ích giữ lại trong nước không tương xứng, thể hiện ở việc thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với quy mô xuất khẩu.

Tỷ trọng DN FDI và nội địa/xuất khẩu. Ảnh:SHS

Về dài hạn, khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, lợi thế lao động giá rẻ sẽ mất dần; dư địa tăng trưởng dựa trên lắp ráp giản đơn co lại.

Nếu không nhanh chóng dịch chuyển lên các nấc thang giá trị cao hơn, chúng ta có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, tăng trưởng chậm lại.

Thị trường vốn Việt Nam cũng sẽ chịu hệ lụy vì những doanh nghiệp niêm yết chỉ làm gia công thuần túy sẽ khó cải thiện biên lợi nhuận, khó thu hút đầu tư dài hạn.

Về giải pháp: nội địa hóa là con đường sống còn. Trong 3-5 năm tới, cần coi phát triển chuỗi cung ứng nội địa là nhiệm vụ cấp quốc gia.

Chúng tôi nhấn mạnh rằng yêu cầu nội địa hóa giờ đây không chỉ là bài toán công nghiệp, mà là điều kiện nền tảng cho sự phát triển bền vững của cả thị trường vốn. Chừng nào doanh nghiệp Việt nắm bắt được nhiều giá trị hơn trong chuỗi sản xuất, chừng đó thị trường chứng khoán mới có thêm nhiều công ty mạnh về căn bản, mang lại tăng trưởng lợi nhuận thực chất cho nhà đầu tư.

Tóm lại, cấu trúc ngoại thương quá dựa vào FDI là “gót chân Achilles” tiềm ẩn cho kinh tế vĩ mô Việt Nam. Nó có thể tạo ra thặng dư thương mại ngắn hạn, nhưng về dài hạn, rủi ro cao về phụ thuộc, về phòng vệ thương mại và về chất lượng tăng trưởng. Nhận diện rõ điều này là bước đầu để chúng ta có chiến lược điều chỉnh, giảm thiểu rủi ro và xây dựng một nền xuất khẩu tự chủ, bền vững hơn.

Với góc nhìn vĩ mô, ông đánh giá khả năng đẩy nhanh nội địa hóa trong những năm tới ra sao, khi vẫn còn tồn tại những rào cản như vốn, công nghệ và môi trường?

Ông Nguyễn Minh Hạnh: Theo phân tích của SHS Research, điều này hoàn toàn khả thi nếu chúng ta hành động quyết liệt và đồng bộ, coi phát triển chuỗi cung ứng nội địa là dự án mang tầm quốc gia.

Kinh nghiệm một số ngành cho thấy cần khoảng 3 - 5 năm đầu tư đồng bộ để hình thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh trong nước. Chẳng hạn, với ngành dệt may: để chủ động được từ sợi, dệt, nhuộm đến may thành phẩm, cần xây dựng các nhà máy sợi - dệt vải - nhuộm vải - may mặc cùng hệ thống xử lý nước thải hiện đại.

Mỗi khâu đều đòi hỏi những điều kiện không hề đơn giản: quỹ đất cho khu công nghiệp chuyên biệt, giấy phép môi trường chặt chẽ, vốn đầu tư lớn, công nghệ hiện đại và nhân lực kỹ thuật cao.

Thường giai đoạn đầu, doanh nghiệp phải hợp tác với chuyên gia nước ngoài khoảng 4 - 5 năm để chuyển giao công nghệ và đào tạo đội ngũ kỹ sư trong nước.

Thực tế hiện nay, nhiều địa phương vẫn e ngại cấp phép dự án nhuộm vì lo ô nhiễm. điều này khiến nhiều cơ hội đã bị bỏ lỡ trong quá khứ. Thời gian không đợi chúng ta; điều có thể làm bây giờ là tiến bước một cách dứt khoát hơn, khắc phục những vướng mắc từng cản trở trước đây..

Muốn đẩy nhanh nội địa hóa, việc hình thành các chuỗi cung ứng nội địa cần được xem là nhiệm vụ chiến lược, với sự phối hợp chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Chính phủ cần đóng vai trò nhạc trưởng, tháo gỡ các rào cản về đất đai, môi trường, vốn và nhân lực một cách linh hoạt cho từng dự án trọng điểm.

Song song với đó, cần tận dụng khu vực FDI như một “bà đỡ” cho quá trình nội địa hóa, thay vì để FDI tồn tại tách rời như một khối ngoại lai.

Cụ thể, khi thu hút các dự án FDI lớn, cần đàm phán lồng ghép các yêu cầu về phát triển hệ sinh thái nhà cung ứng tại Việt Nam, ví dụ, doanh nghiệp FDI phải cam kết tỷ lệ nhất định sử dụng nguyên vật liệu, linh kiện từ nhà cung cấp nội địa, hoặc chương trình đào tạo, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt.

Các gói ưu đãi (thuế, đất đai) cũng nên gắn với điều kiện tỷ lệ nội địa hóa của dự án, thay vì chỉ dựa vào quy mô vốn đăng ký như trước đây. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể làm cầu nối hình thành các cụm liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội trong ngành điện tử, ô tô…, tạo sự gắn kết lợi ích dài hạn và môi trường để doanh nghiệp Việt “học hỏi” tham gia sâu hơn.

Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu tháo gỡ rào cản để DNNVV tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, năng lực sản xuất và tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế sẽ cải thiện rõ rệt.

Thúc đẩy nội địa hóa không thể thiếu yếu tố “đầu vào” quan trọng: ngoại tệ và công nghệ. Để xây dựng các nhà máy quy mô lớn trong lĩnh vực hóa dầu, luyện kim hay bán dẫn, chúng ta phải nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị hiện đại và thuê chuyên gia nước ngoài, kéo theo nhu cầu ngoại tệ tăng mạnh ở giai đoạn đầu tư.

Trong khi đó, chính sách tiền tệ hiện nay đang ưu tiên ổn định tỷ giá để kiểm soát lạm phát và giữ niềm tin. Muốn vừa đẩy mạnh đầu tư phát triển công nghiệp vừa không gây xáo trộn vĩ mô, Việt Nam cần có “lớp đệm” dự trữ ngoại hối đủ dày làm điểm tựa.

Nếu thiếu nguồn ngoại tệ đối ứng mà vẫn cố triển khai các dự án lớn khi chưa nắm được công nghệ cốt lõi, điều đó có thể trở thành “gót chân Achilles” dài hạn của nền kinh tế. Nói cách khác, chúng ta phải bước đi bài bản: chọn lọc lĩnh vực ưu tiên nội địa hóa, huy động nguồn lực (cả vốn VND lẫn ngoại tệ) tương ứng, hợp tác quốc tế để tiếp thu công nghệ, và tiến hành theo lộ trình phù hợp với sức của nền kinh tế.

Mục tiêu GDP cao: Thách thức nhưng khả thi

Trong bối cảnh Quốc hội vừa thông qua mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng cho năm 2026, ông đánh giá như thế nào về tính khả thi của mục tiêu này?

Ông Nguyễn Minh Hạnh: Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng GDP khá cao cho năm 2026 (cũng như các năm tới). Đánh giá của chúng tôi là mục tiêu này mang tính thách thức nhưng không phải bất khả thi, vấn đề nằm ở “chất lượng” của tăng trưởng đó.

Chúng tôi nhấn mạnh rằng các mục tiêu tăng trưởng GDP cao mà Quốc hội đề ra chỉ thực sự bền vững khi khu vực tư nhân khỏe mạnh trở lại, thay vì đạt được bằng mọi giá dựa trên tín dụng ngân hàng hoặc bơm tài khóa.

Nói cách khác, chúng ta có thể đạt mục tiêu tăng trưởng về con số bằng cách nới lỏng mạnh tín dụng, tăng chi tiêu công, nhưng đó sẽ là tăng trưởng kém bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro (lạm phát cao, nợ xấu tăng, hiệu quả đầu tư giảm).

Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng trong các năm tới. Ảnh: Hoàng Anh

Mặt tích cực là Chính phủ nhận thức rõ cần kích thích tổng cầu, thể hiện qua việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư phát triển ngay từ cuối 2025 và dự kiến tiếp tục trong 2026. Đây là hướng đi đúng đắn trong bối cảnh khối tư nhân còn yếu, giúp tạo việc làm và lan tỏa động lực ngắn hạn.

Tuy vậy, tính khả thi của mục tiêu tăng trưởng cao phụ thuộc lớn vào hiệu quả của những đồng vốn đầu tư công ấy.

Nếu đầu tư được định hướng vào các dự án hạ tầng cấp thiết, có tỷ lệ hoàn vốn xã hội cao, thì không chỉ kích cầu trước mắt mà còn nâng cao năng lực sản xuất lâu dài, qua đó giúp GDP tăng bền vững.

Ngược lại, nếu chạy theo các dự án hoành tráng nhưng hiệu quả thấp chỉ để “đạt số”, thì chúng ta có nguy cơ đi vào vết xe đổ của một số địa phương ở Trung Quốc.

Bài học từ Trung Quốc cho thấy tăng trưởng bằng mọi giá, thông qua các dự án công kém hiệu quả, rốt cuộc để lại gánh nặng nợ và những “voi trắng” (như nhà máy dư thừa công suất, sân bay vắng khách, cầu đường ít xe cộ).

Do đó, kỷ luật đầu tư và minh bạch trong lựa chọn dự án là điều kiện tiên quyết để vừa đạt mục tiêu tăng trưởng vừa bảo đảm ổn định vĩ mô.

Một yếu tố khác ảnh hưởng tới tính khả thi của mục tiêu là tiến độ và hiệu quả của Cải cách 2.0. Như đã bàn, nếu các cải cách thể chế được triển khai nhanh, môi trường kinh doanh cải thiện sớm thì khu vực tư nhân có thể hồi phục vào nửa cuối 2026, đóng góp thêm cho tăng trưởng.

Trong kịch bản tích cực, các nút thắt pháp lý, thủ tục được tháo gỡ phần nào, dòng vốn tín dụng chảy vào sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn khi đó GDP có cơ sở để đạt kế hoạch. Tuy nhiên, cũng cần thực tế rằng nửa đầu 2026 triển vọng còn gập ghềnh, doanh nghiệp chưa kịp hấp thụ ngay hiệu ứng cải cách.

Vì vậy, có khả năng để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm, chúng ta phải trông đợi nhiều vào sự tăng tốc trong nửa cuối năm. Điều này đòi hỏi một sự điều hành rất nhạy bén, “giữ nhịp” nền kinh tế khéo léo: nới lỏng hỗ trợ khi cần thúc đẩy, nhưng sẵn sàng ghìm lại nếu có dấu hiệu quá nóng.

Tóm lại, mục tiêu tăng trưởng Chính phủ đặt ra cho 2026 là cao so với năng lực hiện tại của nền kinh tế, song không phải không đạt được. Chìa khóa là chất lượng tăng trưởng. Nếu chúng ta dựa vào nội lực doanh nghiệp, cải cách thể chế và đầu tư công hiệu quả, mục tiêu đó có thể đạt được một cách lành mạnh.

Còn nếu chỉ đơn thuần bơm tín dụng để “lấy số”, tăng trưởng sẽ không bền và chắc chắn sẽ phải trả giá sau này. Chúng tôi tin rằng với sự kết hợp đúng đắn giữa cải cách và kích thích kinh tế có trọng tâm, Việt Nam có thể hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng mà vẫn bảo toàn được ổn định kinh tế vĩ mô.

Chiến lược đầu tư năm 2026: Chọn lọc linh hoạt

SHS đã chuyển hóa các luận điểm vĩ mô thành chiến lược đầu tư cụ thể cho nhà đầu tư như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Hạnh: Mỗi luận điểm vĩ mô lớn đều được chúng tôi chuyển hóa thành định hướng đầu tư tương ứng, nhằm giúp khách hàng và nhà đầu tư của SHS có chiến lược phù hợp trong năm 2026.

Cách tiếp cận của SHS là kết hợp nhuần nhuyễn hai chiều kích giữa cái nhìn Top down và từ Bottom up. Tức là, từ những phân tích vĩ mô và nhóm ngành, chúng tôi xác định các chủ đề đầu tư trọng tâm; đồng thời, đi sâu đánh giá từng doanh nghiệp hưởng lợi hoặc chịu ảnh hưởng từ những chủ đề đó để đưa ra khuyến nghị cụ thể.

Chẳng hạn, một luận điểm lớn năm 2026 là chi phí vốn sẽ cao hơn và thanh khoản có chọn lọc hơn so với giai đoạn thị trường bùng nổ vừa qua. Lãi suất giảm sâu không còn là câu chuyện dễ dàng; lợi suất trái phiếu khó về mức “rẻ” như trước nữa.

Do đó, SHS khuyến nghị nhà đầu tư điều chỉnh chiến lược. Thay vì giữ danh mục dài hạn với kỳ vọng P/E sẽ tiếp tục mở rộng, nhà đầu tư nên rút ngắn thời gian nắm giữ, tăng tính linh hoạt và chú trọng quản trị rủi ro nhiều hơn.

Cụ thể, chúng tôi tư vấn khách hàng cân nhắc chốt lời từng phần khi cổ phiếu đạt mức định giá hợp lý, không nên quá tham lam kỳ vọng P/E cao như trong giai đoạn 2025. Đồng thời, luôn chuẩn bị sẵn kịch bản cắt lỗ nếu thị trường biến động ngoài dự báo.

Việc tăng tính linh hoạt giúp danh mục đầu tư thích nghi với mặt bằng lãi suất mới và tránh được cú sốc khi dòng tiền chung co lại. Ưu tiên những nhóm ngành mang tính phòng thủ cao như Tiêu dùng thiết yếu, Tiện ích và phần nào là Bảo Hiểm (đặc trưng ở Việt Nam).

Xin cảm ơn ông!

Vận hội mới cho TP.HCM từ bước ngoặt thể chế

Vận hội mới cho TP.HCM từ bước ngoặt thể chế

Tiêu điểm -  6 ngày
Không chỉ dừng lại ở những con số tăng trưởng ấn tượng, 2025 là năm TP.HCM thực hiện cuộc "đại phẫu" về không gian phát triển và cấu trúc quản trị, chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau sáp nhập, mở ra một chương mới cho "đầu tàu" kinh tế cả nước.
Ý kiến ( 0)
SHS chính thức có tân Tổng giám đốc, sẵn sàng cho giai đoạn tăng trưởng mới

SHS chính thức có tân Tổng giám đốc, sẵn sàng cho giai đoạn tăng trưởng mới

Hồ sơ quản trị -  6 ngày

Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội vừa công bố văn bản chấp thuận của Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước về việc thay đổi Tổng giám đốc, người đại diện pháp luật.

Vốn FDI giải ngân kỷ lục, tạo tiền đề củng cố động lực tăng trưởng

Vốn FDI giải ngân kỷ lục, tạo tiền đề củng cố động lực tăng trưởng

Tiêu điểm -  1 tuần

Dòng vốn FDI vào Việt Nam năm 2025 đột phá và có triển vọng tích cực trong năm tới nhờ nền tảng vĩ mô ổn định, triển vọng tăng trưởng kinh tế khả quan.

Ngoại giao kinh tế 2025: Mở không gian phát triển

Ngoại giao kinh tế 2025: Mở không gian phát triển

Tiêu điểm -  1 tuần

Năm 2025 đánh dấu công tác ngoại giao kinh tế đã vươn lên trở thành một nhiệm vụ cơ bản và trung tâm, đóng vai trò tiên phong trong việc kiến tạo các động lực tăng trưởng mới cho quốc gia.

Xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động phục vụ Nhân dân

Xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động phục vụ Nhân dân

Leader talk -  54 phút

Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh Chính phủ tiếp tục nỗ lực hết sức mình, phát huy cao nhất sứ mệnh kiến tạo phát triển.

Bộ trưởng Đào Hồng Lan: Chăm sóc sức khỏe người dân từ sớm, từ cơ sở

Bộ trưởng Đào Hồng Lan: Chăm sóc sức khỏe người dân từ sớm, từ cơ sở

Leader talk -  5 giờ

Công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân sẽ gắn chặt với quản lý, chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời. Đây là định hướng thay đổi rất lớn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành y tế trong thời gian tới.

Đổi mới tư duy trong phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Đổi mới tư duy trong phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Leader talk -  5 giờ

Thời gian tới, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải thực hiện được những mục tiêu, yêu cầu mà Đại hội XIV đặt ra.

'Quyết tâm xây dựng Cao Bằng phát triển nhanh, bền vững'

'Quyết tâm xây dựng Cao Bằng phát triển nhanh, bền vững'

Leader talk -  1 ngày

Cao Bằng quyết tâm tạo chuyển biến rõ nét cả về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển chung của đất nước trong giai đoạn mới.

Xây dựng giai cấp công nhân trong kỷ nguyên mới của dân tộc

Xây dựng giai cấp công nhân trong kỷ nguyên mới của dân tộc

Leader talk -  1 ngày

Cần mở rộng hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội, quan tâm tới bảo hiểm xã hội, nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo, y tế, giáo dục và đời sống văn hóa tinh thần của công nhân; thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, khuyến khích chia sẻ lợi ích công bằng, tạo việc làm bền vững, tiền lương đủ sống và đầu tư cho phát triển con người.

Hai phân khúc 'vàng' sẽ dẫn dắt thị trường địa ốc 2026

Hai phân khúc 'vàng' sẽ dẫn dắt thị trường địa ốc 2026

Bất động sản -  22 phút

Theo chuyên gia Savills, thị trường bất động sản năm 2026 sẽ phân hóa rõ rệt. Trong đó, bất động sản công nghiệp và nhà ở được dự báo sẽ tiếp tục dẫn dắt thị trường.

Xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động phục vụ Nhân dân

Xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động phục vụ Nhân dân

Leader talk -  54 phút

Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh Chính phủ tiếp tục nỗ lực hết sức mình, phát huy cao nhất sứ mệnh kiến tạo phát triển.

Hà Nội mục tiêu tăng trưởng kinh tế 11% trở lên, chuyển đổi mô hình lãnh đạo

Hà Nội mục tiêu tăng trưởng kinh tế 11% trở lên, chuyển đổi mô hình lãnh đạo

Tiêu điểm -  59 phút

Lãnh đạo TP. Hà Nội đã đưa ra 4 cam kết hành động, chuyển từ lãnh đạo bằng mệnh lệnh hành chính sang mô hình lãnh đạo hiện đại.

Đề xuất thiết lập, hoàn thiện chính sách xây dựng  xã hội hạnh phúc

Đề xuất thiết lập, hoàn thiện chính sách xây dựng xã hội hạnh phúc

Tiêu điểm -  2 giờ

Xây dựng một xã hội hạnh phúc không chỉ là khát vọng mà còn được xác định là mục tiêu chiến lược, thước đo quan trọng phản ánh chất lượng phát triển và mức độ thụ hưởng của nhân dân.

Việt Nam có đủ điều kiện, tiềm năng, động lực và tự tin tăng trưởng kinh tế 10% trở lên

Việt Nam có đủ điều kiện, tiềm năng, động lực và tự tin tăng trưởng kinh tế 10% trở lên

Tiêu điểm -  2 giờ

Các khu vực kinh tế đều cho thấy còn nhiều dư địa, nguồn lực, động lực mới cho tăng trưởng kinh tế 10% trở lên.

Sức mạnh hệ sinh thái và nền tảng số định hình lại biên tăng trưởng của Techcombank

Sức mạnh hệ sinh thái và nền tảng số định hình lại biên tăng trưởng của Techcombank

Tài chính -  3 giờ

Trong quý IV/2025, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 9,2 nghìn tỷ đồng, tăng gần 95% so với cùng kỳ, đánh dấu quý tăng kỷ lục thứ ba liên tiếp.

Sàn tài sản số đầu tiên có thể được cấp phép từ tháng 3/2026

Sàn tài sản số đầu tiên có thể được cấp phép từ tháng 3/2026

Tiêu điểm -  4 giờ

Doanh nghiệp thí điểm sàn tài sản số sẽ cần trải qua ít nhất 30 ngày xét duyệt hồ sơ, tài liệu để nhận được giấy phép chính thức từ Bộ Tài chính.