Lợi nhuận 6 tháng của 27 ngân hàng vượt 205.000 tỷ đồng
So sánh lợi nhuận trước thuế và sau thuế lũy kế sáu tháng; đơn vị: nghìn tỷ đồng.
Nguồn: Tổng hợp BCTC quý II/2026 của 27 ngân hàng niêm yết.
Theo báo cáo tài chính bán niên 2026, tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 205.116,1 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 19,5%. Lợi nhuận sau thuế đạt 164.711,5 tỷ đồng, tăng 19,8%.
Riêng quý II, lợi nhuận trước thuế đạt 110.911,7 tỷ đồng, cao hơn 17,7% so với quý I và tăng 24,5% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 89.295,7 tỷ đồng, tăng 18,4% theo quý và 25,4% theo năm. Điều này cho thấy nhịp sinh lời không chỉ cao hơn cùng kỳ mà còn tăng tốc trong quý II.
Độ rộng tăng trưởng tương đối tích cực: 21/27 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng so với cùng kỳ, trong khi 6 ngân hàng suy giảm. Trung vị tăng trưởng đạt 22,5%, cao hơn mức tăng bình quân của toàn mẫu, phản ánh kết quả tích cực không chỉ được tạo ra bởi một vài ngân hàng đầu ngành.
Vietcombank dẫn đầu với 29.222,4 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Tiếp theo là VietinBank với 25.868,1 tỷ đồng, MBBank với 20.188,3 tỷ đồng, BIDV với 18.904,5 tỷ đồng, VPBank với 18.880,0 tỷ đồng và Techcombank với 18.540,0 tỷ đồng.
Sáu ngân hàng này chiếm 64,2% tổng lợi nhuận trước thuế của mẫu; top 10 chiếm 83,2%. Mức độ tập trung lợi nhuận vì vậy còn cao hơn mức độ tập trung số lượng ngân hàng, cho thấy lợi thế quy mô, nền khách hàng, năng lực vốn và khả năng đa dạng hóa nguồn thu vẫn tạo ra khoảng cách lớn giữa nhóm dẫn đầu và phần còn lại.
Tuy nhiên, thứ hạng lợi nhuận tuyệt đối chưa phản ánh đầy đủ chất lượng sinh lời. Một ngân hàng lớn có thể tạo ra hàng chục nghìn tỷ đồng lợi nhuận nhưng hiệu quả trên mỗi đồng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu chưa chắc cao nhất. Ngược lại, một ngân hàng quy mô nhỏ có thể đạt tốc độ tăng lợi nhuận rất cao nhờ nền so sánh thấp, khoản thu bất thường hoặc giảm trích lập dự phòng.

Xét theo tốc độ tăng lợi nhuận trước thuế, BVBank dẫn đầu với mức tăng 486,1%, tiếp theo là ABBank tăng 109,1%, VietBank tăng 83,5%, VPBank tăng 68,1% và PGBank tăng 65,8%.
Các tỷ lệ rất cao của nhóm ngân hàng nhỏ cần được đọc cùng nền so sánh. Chẳng hạn, lợi nhuận trước thuế của BVBank tăng hơn năm lần nhưng quy mô tuyệt đối trong sáu tháng mới đạt 547 tỷ đồng. Tốc độ tăng cao cho thấy sự thay đổi đáng kể so với chính ngân hàng đó, nhưng chưa đồng nghĩa với đóng góp lớn cho lợi nhuận toàn ngành.
Xét theo giá trị tuyệt đối, VPBank mới là ngân hàng đóng góp nhiều nhất vào mức tăng lợi nhuận chung, với phần tăng thêm 7.650,6 tỷ đồng. Vietcombank đóng góp 7.328,6 tỷ đồng, VietinBank 6.947,7 tỷ đồng, MB 4.299,0 tỷ đồng và Techcombank 3.405,2 tỷ đồng.
Chỉ năm ngân hàng này đã tạo ra 88,4% mức tăng ròng lợi nhuận trước thuế của toàn mẫu. Đây là khác biệt quan trọng giữa bảng xếp hạng theo tỷ lệ và bảng xếp hạng theo đóng góp thực tế.
Tổng thu nhập hoạt động của 27 ngân hàng đạt 407.423,2 tỷ đồng, tăng 17,1%. Trong đó, thu nhập lãi thuần tăng 16,8%, tương đương tăng thêm 45.373,4 tỷ đồng; thu nhập ngoài lãi tăng 18,2%, bổ sung thêm 14.202,9 tỷ đồng.
Trong khi tổng thu nhập tăng hơn 17%, chi phí hoạt động chỉ tăng 10,2%. Khoảng cách này giúp lợi nhuận trước dự phòng tăng 20,2%, lên 287.971,7 tỷ đồng.
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) của toàn mẫu giảm từ 31,15% xuống 29,32%. Đây là một trong những lý do quan trọng giúp lợi nhuận tăng nhanh hơn doanh thu: mỗi 100 đồng thu nhập hoạt động trong nửa đầu năm 2026 chỉ phải “chi” khoảng 29,3 đồng cho vận hành, thấp hơn gần 1,8 đồng so với cùng kỳ.
Hiệu ứng này phản ánh nhiều yếu tố có thể cùng tồn tại: quy mô tín dụng và tài sản sinh lời tăng, nền tảng số giúp hấp thụ thêm giao dịch mà không làm chi phí tăng tương ứng, mạng lưới và nhân sự được khai thác hiệu quả hơn, đồng thời một số khoản thu ngoài lãi phục hồi. Tuy nhiên, để xác định ngân hàng nào cải thiện hiệu quả một cách bền vững, vẫn cần xem kỹ cơ cấu nguồn thu và tính lặp lại của từng khoản mục.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của 27 ngân hàng đạt 82.855,7 tỷ đồng, tăng 22,0% so với cùng kỳ. Tốc độ này cao hơn mức tăng tổng thu nhập hoạt động và cũng nhỉnh hơn mức tăng lợi nhuận trước dự phòng.
Về mặt số học, tăng thu nhập lãi thuần đóng góp dương 45.373,4 tỷ đồng và tăng thu nhập ngoài lãi đóng góp dương 14.202,9 tỷ đồng vào biến động lợi nhuận. Ngược lại, chi phí hoạt động tăng làm giảm 11.089,3 tỷ đồng và chi phí dự phòng tăng làm giảm thêm 14.956,6 tỷ đồng. Kết quả cuối cùng là lợi nhuận trước thuế tăng ròng 33.530,8 tỷ đồng.
Tỷ lệ dự phòng trên lợi nhuận trước dự phòng tăng nhẹ từ 28,35% lên 28,77%. Điều này cho thấy ngân hàng tạo ra nhiều lợi nhuận vận hành hơn, nhưng phần phải dành cho rủi ro tín dụng cũng lớn hơn.
Trên cơ sở năm hóa và dùng bình quân đầu-cuối kỳ, ROA trước thuế của mẫu đạt khoảng 1,87%, ROA sau thuế đạt 1,51%, ROE đạt 17,49% và chi phí tín dụng ở mức khoảng 1,12%. Đây là các chỉ tiêu proxy ở cấp mẫu, hữu ích để nhìn xu hướng nhưng không thay thế chỉ tiêu chính thức do từng ngân hàng công bố.
Ở nhóm ngân hàng dẫn đầu về đóng góp, phần lớn mức tăng đến từ thu nhập cốt lõi. Vietcombank tăng gần 8.946 tỷ đồng thu nhập lãi thuần và hơn 3.473 tỷ đồng thu nhập ngoài lãi; VietinBank tăng gần 8.798 tỷ đồng thu nhập lãi thuần; MB tăng hơn 7.742 tỷ đồng thu nhập lãi thuần; VPBank tăng gần 8.100 tỷ đồng thu nhập lãi thuần và hơn 3.191 tỷ đồng thu nhập ngoài lãi. Dù chi phí và dự phòng cùng tăng, quy mô tăng thu nhập đủ lớn để giữ lợi nhuận đi lên.
Techcombank có cấu trúc cân bằng hơn: thu nhập lãi thuần tăng khoảng 2.843 tỷ đồng, thu ngoài lãi tăng hơn 1.419 tỷ đồng, trong khi chi phí dự phòng giảm hơn 500 tỷ đồng so với cùng kỳ. HDBank cũng được hỗ trợ đáng kể bởi chi phí dự phòng giảm, bên cạnh tăng trưởng thu nhập.
Ở ABBank, lợi nhuận trước thuế tăng hơn gấp đôi nhưng thu nhập lãi thuần lại giảm khoảng 405 tỷ đồng. Động lực chủ yếu đến từ thu nhập ngoài lãi tăng hơn 2.451 tỷ đồng. Điều này không phủ nhận kết quả tích cực, nhưng cho thấy cần bóc tách kỹ tính chất và khả năng lặp lại của các khoản thu ngoài lãi trước khi ngoại suy tốc độ tăng trưởng sang các kỳ sau.
Ở chiều ngược lại, Sacombank giảm hơn 3.195 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế chủ yếu do chi phí dự phòng tăng hơn 6.011 tỷ đồng, dù thu nhập ngoài lãi và hiệu quả chi phí có cải thiện. SeABank giảm hơn 3.158 tỷ đồng, trong đó phần lớn đến từ thu nhập ngoài lãi suy giảm. Eximbank chịu tác động đồng thời từ thu ngoài lãi giảm và dự phòng tăng. Những trường hợp này cho thấy cùng một kết quả giảm lợi nhuận nhưng nguyên nhân kinh tế có thể rất khác nhau.
Mức tăng gần 20% của lợi nhuận sáu tháng đầu năm cho thấy nền sinh lời của nhóm ngân hàng niêm yết đang được củng cố. Thu nhập tăng nhanh hơn chi phí giúp hiệu quả vận hành cải thiện, còn quý II ghi nhận động lượng tốt hơn quý I.
Nhưng tăng trưởng lợi nhuận không thể chỉ được đánh giá bằng con số cuối cùng. Cần tiếp tục theo dõi ít nhất bốn lớp dữ liệu: tăng trưởng thu nhập lãi thuần có đến từ tăng dư nợ hay cải thiện biên lãi; thu nhập ngoài lãi có mang tính thường xuyên hay chứa khoản bất thường; chi phí vốn và cạnh tranh tiền gửi tác động thế nào tới NIM; và nợ xấu hình thành mới có khiến dự phòng tiếp tục tăng nhanh.
Cuộc đua lợi nhuận trong nửa cuối năm vì vậy không chỉ là ngân hàng nào vượt kế hoạch sớm hơn hoặc tăng trưởng cao hơn. Câu hỏi quan trọng hơn là ngân hàng nào có thể biến sự mở rộng bảng cân đối thành thu nhập bền vững, giữ chi phí tăng chậm hơn doanh thu và vẫn duy trì đủ bộ đệm cho rủi ro tín dụng.
Quy mô lợi nhuận tạo ra vị thế. Tốc độ tăng trưởng tạo ra kỳ vọng. Nhưng chất lượng nguồn thu và khả năng hấp thụ rủi ro mới quyết định mức lợi nhuận đó có thể lặp lại hay không.
* Bài viết thuộc Chuyên đề "Toàn cảnh ngân hàng Việt Nam: Từ báo cáo tài chính đến mạch nhịp kinh tế"

Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng tăng hơn 22%, tín dụng tiến sát kế hoạch và nợ xấu vẫn trong vùng kiểm soát, nhưng áp lực biên lãi và nguồn vốn cần được theo dõi.
VPBank tăng mạnh tổng tài sản, cho vay và lợi nhuận trong quý II/2026. Sau nửa đầu năm, ngân hàng đã đi được bao xa so với kế hoạch 2026?
LPBank gần hoàn thành kế hoạch tổng tài sản và tín dụng sau 6 tháng 2026, nhưng lợi nhuận trước thuế mới đạt khoảng 40% mục tiêu năm. Nửa cuối năm sẽ quyết định khả năng cán đích lợi nhuận.
Dòng vốn mới sau khi thị trường chứng khoán được nâng hạng sẽ cần một nơi có thêm doanh nghiệp quy mô lớn, thanh khoản tốt và đại diện rộng hơn cho nền kinh tế.
Nhịp điều chỉnh mạnh trong tháng 7 khiến hiệu suất bình quân của các quỹ cổ phiếu giảm 7,4%, kéo mức lũy kế 7 tháng xuống âm 8,9%.
Nguồn vốn cho hạ tầng không thiếu nhưng "điểm nghẽn" là việc nhiều dự án hiện vẫn chưa "đủ chuẩn" để hấp thụ dòng vốn đầu tư.
Thị trường tài sản số phát triển nhanh hơn hành lang pháp lý, đặt ra bài toán không chỉ công nhận tài sản mà còn bảo vệ quyền khi tranh chấp phát sinh.
Trọng tâm ngành ngân hàng đang chuyển sang khả năng kiểm soát chất lượng tài sản và duy trì bộ đệm đủ lớn để hấp thụ rủi ro trong bối cảnh còn nhiều biến động.
Từ điểm đến có lợi thế chi phí, Việt Nam đang từng bước trở thành một nền tảng sản xuất đòi hỏi năng lực cao hơn về công nghệ, hạ tầng và chuỗi cung ứng.
Công nghiệp tăng tốc, xuất khẩu mở rộng, FDI thực hiện đạt mức cao trong nhiều năm và đầu tư công được đẩy mạnh là những điểm nhấn trong bức tranh kinh tế 8 tháng đầu năm 2026.
Nhiều chính sách mới liên quan đến tài sản mã hóa, lao động, thuế, ngoại thương, bảo hiểm xã hội và hoạt động của doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực trong tháng 9/2026.
Hơn 600 chuyên viên kinh doanh đến từ hệ thống phân phối chiến lược đã hội quân tại lễ ra quân Khải Hoàn Prime ngày 4/9, tạo nên màn khởi động đầy khí thế cho dự án trong giai đoạn mới. Với định vị “Kiệt tác căn hộ TOD chuẩn Urban Wellness giữa lòng Nam Sài Gòn”, Khải Hoàn Prime đang cho thấy sức hút của một sản phẩm khác biệt, sẵn sàng tạo thêm xung lực cho thị trường khu Nam.
Dòng vốn mới sau khi thị trường chứng khoán được nâng hạng sẽ cần một nơi có thêm doanh nghiệp quy mô lớn, thanh khoản tốt và đại diện rộng hơn cho nền kinh tế.
Những chuyển động lớn liên quan đến cổ đông trong thời gian ngắn gần đây đã dần hé lộ chân dung chủ nhân thực sự đứng sau tổ hợp công trình dịch vụ và nhà ở cao cấp tại số 267 Quang Trung, phường Hà Đông, Hà Nội.
Theo ông Kiều Xuân Phan, đại diện Tập đoàn Nam Mê Kông, khu vực Bình Dương (cũ) sau khi sáp nhập vào TP.HCM vẫn đầy sức hút, bởi vì đây là trung tâm sản xuất công nghiệp, một trong những cực tăng trưởng mới của siêu đô thị phía Nam.