Leader talk
Tái định vị kinh tế nhà nước - Bài 4: Một hệ sinh thái cùng thắng giữa nhà nước và khu vực tư nhân
Đã đến lúc đưa doanh nghiệp nhà nước trở lại quỹ đạo quản trị chuyên nghiệp và hình thành một hệ sinh thái cùng thắng giữa nhà nước và khu vực tư nhân.
Nghị quyết 79 về đổi mới hoạt động của kinh tế nhà nước đang thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận khi đưa ra góc nhìn mới mẻ về cách thức phân bổ nguồn lực quốc gia. Văn kiện này tái khẳng định vị thế đặc biệt của khu vực nhà nước đồng thời yêu cầu mọi quá trình vận hành phải tuân thủ nghiêm ngặt quy luật thị trường. Đây là nỗ lực nhằm xóa bỏ những ưu đãi bất hợp lý vốn gây ra tình trạng lãng phí và làm giảm năng lực cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác suốt thời gian dài.
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, việc xác lập lại vai trò "đặc biệt quan trọng" của doanh nghiệp nhà nước gắn liền với trách nhiệm tiên phong dẫn dắt. Cấu trúc kinh tế chỉ thực sự ổn định khi các nguồn lực được khơi thông một cách minh bạch, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tiếp cận công bằng và thúc đẩy sự cộng tác thực chất trong các dự án chiến lược quốc gia.

Tái định vị vai trò doanh nghiệp nhà nước
Trong Nghị quyết 79, vai trò của kinh tế nhà nước được nhấn mạnh là “đặc biệt quan trọng”, đồng thời đặt ra cách tiếp cận mới về quản lý và phân bổ nguồn lực. Theo bà, cách tiếp cận này có ý nghĩa như thế nào đối với cấu trúc của nền kinh tế?
Bà Phạm Chi Lan: Trước đây, Nghị quyết 68 đã khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đó là một bước tiến đáng mừng. Giờ đây, với Nghị quyết 79, chúng ta nhấn mạnh thêm vai trò của kinh tế nhà nước là "đặc biệt quan trọng". Như vậy, cả hai lực lượng này đều được đặt ở vị thế xứng tầm và đáng quan tâm như nhau.
Điều tôi tâm đắc nhất ở Nghị quyết này là sự mạch lạc trong tư duy về quản lý và phân bổ nguồn lực. Lần đầu tiên, chúng ta khẳng định việc sử dụng nguồn lực phải tuân theo quy luật thị trường.
Nghị quyết chỉ rõ, nguồn lực đất nước không phải của riêng khu vực nhà nước. Mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân và người dân, đều có quyền tiếp cận và sử dụng các nguồn lực đó. Đây là một sự thay đổi rất tích cực.
Thực tế trước đây, khi nói đến kinh tế nhà nước, chúng ta thường chỉ tập trung vào doanh nghiệp nhà nước. Đây là lực lượng được ưu tiên sử dụng nhiều nguồn lực nhất nhưng lại ít trách nhiệm nhất về hiệu quả. Hệ quả là tình trạng thất thoát, lãng phí tài nguyên và nguồn lực do nhà nước quản lý luôn ở mức nặng nề bậc nhất.
Ngược lại, khu vực tư nhân hoàn toàn không có động lực để lãng phí. Đối với họ, từ nguồn vốn, tài nguyên đến công sức và thời gian đều là "vàng bạc" vì họ tiếp cận chúng cực kỳ khó khăn. Thậm chí, khi tiếp cận được, họ thường phải trả giá cao và chịu sự phân biệt đối xử rõ rệt so với doanh nghiệp nhà nước hay khu vực đầu tư nước ngoài. Đó là một thực tế rất đau lòng.
Chính vì vậy, điểm mạnh của Nghị quyết 79 là đã nhìn thẳng vào sự kém hiệu quả trong quá khứ để đưa ra yêu cầu mới là sử dụng nguồn lực phải có hiệu quả và phải theo cơ chế thị trường. Nghị quyết cũng làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức nhà nước trong việc quản lý tài sản chung. Đây là những tín hiệu rất tốt cho một cấu trúc kinh tế công bằng và minh bạch hơn.
Nghị quyết lần này cũng nhấn mạnh yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải tiên phong và dẫn dắt trong những lĩnh vực trọng yếu. Theo bà, vai trò tiên phong đó nên được hiểu và thực hiện như thế nào để tránh lặp lại những sai lệch từng xảy ra trước đây?
Bà Phạm Chi Lan: Điểm đáng chú ý trong Nghị quyết lần này là đã làm rõ vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực thiết yếu, đặc biệt nhấn mạnh vào yêu cầu phải "tiên phong" và "dẫn dắt". Trước đây, doanh nghiệp nhà nước thường chỉ được nhìn nhận là một lực lượng quy mô lớn mà thiếu đi yếu tố tiên phong đúng nghĩa. Tiên phong ở đây phải được hiểu là anh đi đầu thì anh phải gương mẫu, phải làm gương về mọi mặt để kéo các lực lượng khác cùng đi lên. Thực tế thời gian qua, không ít doanh nghiệp nhà nước thay vì dẫn dắt lại gây khó khăn, chèn ép khu vực tư nhân, thậm chí hình thành nên các "doanh nghiệp sân sau" núp bóng tư nhân để chia chác lợi ích quốc gia và tài sản nhà nước.
Chính vì vậy, sự thay đổi trong quản trị lần này là vô cùng cần thiết. Tiên phong hiện nay phải gắn liền với công nghệ và đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 57. Khi công nghệ đã được xác định là cốt lõi để chuyển đổi mô hình phát triển, thì không có lý do gì để duy trì những doanh nghiệp nhà nước lạc hậu hoặc thiếu quan tâm đến cải tiến kỹ thuật. Những đơn vị hoạt động không hiệu quả cần được mạnh dạn sáp nhập hoặc đưa ra thị trường theo đúng quy luật cạnh tranh, thay vì tiếp tục duy trì một cách hình thức và gây lãng phí.
Một vấn đề đau xót khác trong quá khứ là việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước lớn chưa mang lại lợi ích thực sự cho khu vực tư nhân. Nguồn lực đất đai và tài sản khổng lồ của các tập đoàn này sau khi chuyển đổi thường không được giải tỏa ra thị trường một cách minh bạch theo giá thực tế, mà lại rơi vào tay các nhóm lợi ích thông qua những thỏa thuận ngầm. Những sai phạm về đất đai và việc biến tài sản công thành tài sản "tư hữu" của một vài cá nhân đã gây ra những hệ lụy nặng nề, khiến nhiều trường hợp cuối cùng phải đối mặt với pháp luật.

Tôi cho rằng yêu cầu về vai trò tiên phong dẫn dắt lần này gắn liền với trách nhiệm gương mẫu trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các xu thế mới của thời đại là một hướng đi rất đúng đắn. Đồng thời, việc nhấn mạnh sự cộng tác, hợp tác giữa doanh nghiệp nhà nước với khu vực tư nhân thay vì đối đầu hay chèn ép sẽ tạo ra một hệ sinh thái kinh tế lành mạnh hơn.
Nếu chúng ta thực hiện nghiêm túc việc loại bỏ các lợi ích nhóm và bắt buộc doanh nghiệp nhà nước phải vận hành minh bạch, hiệu quả, thì đây chính là điểm tựa quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững.
Thưa bà, bên cạnh những điểm tích cực, còn điều gì khiến bà trăn trở?
Bà Phạm Chi Lan: Điều tôi vẫn lăn tăn là quy định: ở những lĩnh vực tư nhân đã làm tốt, nếu doanh nghiệp nhà nước tham gia thì "phải làm tốt hơn". Quan điểm của tôi rất rõ ràng: nếu tư nhân đã làm tốt và đáp ứng đủ nhu cầu, nhà nước không cần tham gia nữa. Nếu tư nhân làm tốt nhưng chưa đủ quy mô, nhà nước nên dùng chính sách khuyến khích họ mở rộng thay vì trực tiếp nhảy vào cạnh tranh.
Chúng ta cần hết sức tỉnh táo để tránh lặp lại sai lầm của thời kỳ cho phép các tập đoàn kinh tế đa dạng hóa ngành nghề vô tội vạ. Câu chuyện Vinashin là một nỗi tiếc nuối điển hình. Từ một tổng công ty đóng tàu đầy triển vọng, có tiềm năng đưa Việt Nam trở thành cường quốc đóng tàu thứ năm thế giới, Vinashin đã tự làm yếu mình khi bùng ra thành 400 công ty con. Họ đầu tư vào những lĩnh vực "tréo ngoe" như khu nghỉ dưỡng, cửa hàng xe máy, thậm chí cả trại nuôi lợn.
Việc dàn trải nguồn lực vào những ngành "râu ria" không chỉ chèn lấn tư nhân mà còn làm loãng sức mạnh cốt lõi, khiến công nghệ và thiết bị đóng tàu chính yếu không được đầu tư đúng mức. Doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực trọng yếu không có quyền lơ là nhiệm vụ chính của mình để chạy theo những lợi ích bên ngoài.
Nhìn ra thế giới, các nước phương Tây dù không trực tiếp sở hữu nhiều doanh nghiệp nhà nước nhưng họ kiểm soát các ngành trọng yếu như điện lực, dầu khí cực kỳ chặt chẽ. Khi xảy ra khủng hoảng tài chính năm 2008, Chính phủ Mỹ đã cứu các doanh nghiệp ô tô lớn vì tầm quan trọng của ngành này đối với nền kinh tế, nhưng đó là sự cứu trợ có điều kiện: phải hoàn trả mọi hỗ trợ trong thời hạn nhất định. Đó là cách tiếp cận rất hợp lý và sòng phẳng.
Tôi hy vọng từ Nghị quyết này, các chính sách cụ thể sẽ được thiết kế minh bạch hơn nữa. Phải xác định rõ phạm vi nào doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải tập trung tối đa để đảm bảo an ninh, quốc phòng và nhu cầu chung của nền kinh tế. Những gì không thuộc lĩnh vực cốt lõi thì phải biết buông ra. Cách tiếp cận mới phải dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển xanh. doanh nghiệp nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc này, không thể cứ mãi dựa vào đặc quyền mà thiếu đi hiệu quả thực tế. Nếu làm được như vậy, kinh tế nhà nước mới thực sự làm tròn vai trò là trụ cột dẫn dắt mà không gây hệ lụy cho nền kinh tế.
Tiên phong dẫn dắt
Với tình hình hiện tại, đâu là những điều kiện cần để doanh nghiệp nhà nước có thể tiên phong, và họ còn đang thiếu những gì để thực hiện vai trò đó?
Bà Phạm Chi Lan: Để doanh nghiệp nhà nước thực sự tiên phong, tôi cho rằng có hai yếu tố quyết định: con người và cơ chế quản trị.
Thứ nhất là về đội ngũ quản trị. Thực tế, chúng ta có nhiều lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước rất giỏi, có năng lực quản trị thực thụ. Tuy nhiên, cái chúng ta thiếu là một đội ngũ đồng bộ theo mô hình "C-suite" như các doanh nghiệp lớn quốc tế (gồm CEO, CFO, CIO...). Tiên phong không thể chỉ dựa vào một cá nhân chủ tịch hay tổng giám đốc, mà cần các tầng quản trị chuyên môn có quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng.
Lâu nay, tại sao đổi mới sáng tạo ở doanh nghiệp nhà nước vẫn mờ nhạt? Có những ngành đầu tư ra nước ngoài rất nhiều nhưng thành tựu về công nghệ lại không tương xứng. Đó là vì chúng ta chưa tạo được sự đồng bộ về trách nhiệm con người. Đặc biệt, vai trò của Hội đồng thành viên hiện nay còn mang tính hình thức, đôi khi trở thành rào cản. Cơ cấu này thường bị lấp đầy bởi các đại diện từ các Bộ – những người đôi khi thiếu chuyên môn thực chất hoặc có tâm lý "giữ an toàn", không dám quyết định vì sợ trách nhiệm, làm nhụt chí những người muốn cải cách.
Tiên phong không thể chỉ dựa vào một cá nhân chủ tịch hay tổng giám đốc, mà cần các tầng quản trị chuyên môn có quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng.
Thứ hai là về cơ chế quản lý của Nhà nước. doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang chịu quá nhiều "vòng kim cô". Một quyết định nhỏ cũng phải xin ý kiến từ nhiều Bộ ngành khác nhau. Quy trình "xin - cho" này cực kỳ mất thời gian, khi một Bộ hỏi ý kiến các Bộ khác rồi mới trình lên cấp cao hơn. Có thời kỳ chúng ta yêu cầu các tập đoàn báo cáo trực tiếp Thủ tướng, điều này là không hợp lý. Thủ tướng là người điều hành hành pháp chung của đất nước, không nên trực tiếp cầm tay chỉ việc cho từng doanh nghiệp.
Tôi hoan nghênh việc tập trung đầu mối quản lý về Bộ Tài chính và Ủy ban Giám sát để hạch toán đầy đủ nguồn lực (từ tài chính đến đất đai, tài nguyên) theo giá trị tiền tệ. Tuy nhiên, nhà nước cần thay đổi tư duy quản trị.
Một là bớt đầu mối giám sát. Các vấn đề về lao động, tiền lương chỉ cần tuân thủ đúng Luật Lao động thay vì thêm các quy định riêng biệt quá khắt khe. Hai là chấp nhận rủi ro trong đổi mới: Khi ứng dụng công nghệ mới, không thể đòi hỏi doanh nghiệp phải có lãi ngay từ năm đầu tiên. Đầu tư công nghệ thường phải chịu lỗ vài năm đầu để thử nghiệm. Nếu nhà nước vẫn giữ tư duy "năm nào cũng phải có lãi" thì không ai dám đổi mới sáng tạo.
Bài học từ Rạng Đông là minh chứng điển hình. Khi nhà nước chỉ còn giữ 16% vốn nhưng vị đại diện (từ Bộ Tài chính) vẫn dùng quyền phủ quyết để ngăn cản việc đổi mới công nghệ bóng đèn suốt nhiều năm, khiến doanh nghiệp bị trì kéo. Chỉ đến khi nhà nước thoái hết vốn, Rạng Đông mới "bùng nổ", trở thành ngọn cờ đầu về chuyển đổi kép nhờ chủ động hợp tác với các tập đoàn như Viettel, FPT và các viện nghiên cứu.
Tóm lại, muốn doanh nghiệp nhà nước tiên phong thì nhà nước phải dám buông tay ở những lĩnh vực không cần thiết và thay đổi cách ứng xử với doanh nghiệp. Nhà nước là người hoạch định chính sách, nếu đã tuyên bố ủng hộ tinh thần "dám nghĩ, dám làm" thì các cơ quan quản lý cũng phải hành động trên tinh thần đó, cho phép doanh nghiệp có không gian để thử nghiệm và sai sót trong một giới hạn nhất định.

Thưa bà, một rào cản lớn hiện nay là tâm lý sợ trách nhiệm, dẫn đến tình trạng trì trệ trong việc ra quyết định tại các doanh nghiệp nhà nước. Làm sao để giải quyết "điểm nghẽn" này và bảo vệ những người dám nghĩ dám làm?
Bà Phạm Chi Lan: Hiện nay, áp lực sợ trách nhiệm đang đè nặng lên cả hệ thống. Nó tạo ra tình trạng "đá bóng" trách nhiệm, ai cũng né tránh vì cho rằng không làm là an toàn nhất. Thà chịu kỷ luật hành chính còn hơn đối mặt với nguy cơ ra tòa. Sự trì trệ này khiến ngay cả những lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước có năng lực cũng không dám quyết đoán. Tuy nhiên, chúng ta không thể quy tất cả cho người đứng đầu nếu cả một bộ máy vận hành theo lối mòn đó.
Tinh thần mới của Tổng Bí thư về đổi mới thể chế và thúc đẩy sự dám làm, dám chịu trách nhiệm là một luồng sinh khí cần thiết. Nhưng một mình Nghị quyết 79 không thể thay đổi cục diện nếu bộ máy quản trị nhà nước bên trên chưa sẵn sàng. Nếu bộ máy vẫn vận hành theo kiểu cũ, doanh nghiệp có muốn làm cũng không làm được. Do đó, nhân tố quan trọng thứ hai sau nỗ lực của doanh nghiệp chính là sự chuyển mình đồng bộ của hệ thống quản trị nhà nước.
Thực tế, doanh nghiệp nhà nước không thiếu người giỏi, thậm chí nhiều người được đào tạo rất bài bản và trình độ kỹ trị cao. Lấy ví dụ ngành điện, dù hay bị phê phán nhưng trình độ quản trị hệ thống và điều độ điện quốc gia của họ rất đáng nể. Vấn đề của EVN hay năng lượng tái tạo không chỉ nằm ở bản thân tập đoàn, mà là ở các nút thắt chính sách từ cấp Bộ và Chính phủ. Ví dụ, thay vì bắt EVN vừa làm mạng lưới, vừa phải đi phát điện thì nhà nước nên tập trung để họ quản trị hạ tầng mạng lưới và hệ thống lưu trữ – những mảng công nghệ mới cần sự dẫn dắt của nhà nước. Còn phát điện, nhất là năng lượng tái tạo, nên để tư nhân làm vì họ đã rất sẵn sàng.
Về công tác nhân sự, tôi cho rằng việc điều động các vị Thứ trưởng sang làm lãnh đạo tập đoàn rồi sau đó lại quay về Bộ là một cách dùng người chưa đúng chuyên môn và thiếu tính chuyên nghiệp. Quản trị nhà nước và quản trị doanh nghiệp là hai lĩnh vực có yêu cầu và tố chất hoàn toàn khác nhau.
Nghề gì bây giờ cũng phải chuyên nghiệp. Trừ vị trí Bộ trưởng là vị trí chính trị, từ Thứ trưởng trở xuống nên là các chuyên gia kỹ trị. Việc đưa một nhân vật mang tính chất chính trị về điều hành một bộ máy đang vận hành thuần túy về chuyên môn kỹ thuật đôi khi gây ra những xáo trộn không cần thiết, thậm chí làm đảo lộn hệ thống đang chạy tốt. Để doanh nghiệp nhà nước thực sự hiệu quả, chúng ta phải để những nhà kỹ trị phát huy tối đa khả năng chuyên môn của họ trong một môi trường quản trị chuyên nghiệp, thay vì cứ mải mê với những vòng xoáy điều động nhân sự mang tính hành chính.
Thưa bà, câu chuyện quản trị doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang bộc lộ những bất cập gì và theo bà, chúng ta cần thay đổi hay bổ sung điều gì để bộ máy này vận hành hiệu quả hơn?
Bà Phạm Chi Lan: Tôi tin rằng những người lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước hiện nay đều hiểu rất rõ áp lực của thị trường. Họ biết rằng nếu không quản trị chuyên nghiệp, không liên tục đổi mới để cạnh tranh về giá thành và chất lượng, doanh nghiệp sớm muộn cũng bị đào thải hoặc bị người tiêu dùng quay lưng. Sức ép từ thị trường và từ những hộ tiêu dùng lớn là rất thực tế, không ai có thể làm ngơ.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay chính là sự "mất tính chuyên nghiệp" do những ràng buộc ngoài chuyên môn.
Thứ nhất là sự chồng chéo giữa vai trò kỹ trị và chính trị. Người quản trị doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang phải đóng vai như một nhà chính trị quá nhiều. Họ mất đến 1/3 quỹ thời gian chỉ để lo các mối quan hệ, theo dõi chính sách, đi "chạy vạy" hoặc thuyết phục các bên liên quan để được ra quyết định. Trong thời đại AI và công nghệ thay đổi từng giờ, việc tiêu tốn thời gian vào những thủ tục hành chính như vậy là một sự phí phạm khủng khiếp. Nó bào mòn quỹ thời gian và công sức đáng lẽ phải dành cho những quyết định chiến lược và thích ứng công nghệ mới.
Thứ hai là vấn đề khát vọng và sử dụng nhân tài. Thực tế, chúng ta không thiếu nguồn nhân lực giỏi. Nhưng nếu môi trường làm việc không cho phép họ thực hiện những khát vọng đổi mới, những người tài thực thụ sẽ sẵn sàng rời bỏ khu vực nhà nước để sang khu vực tư nhân, nơi mà họ được toàn quyền hành động.
Để thay đổi, tôi cho rằng cần tập trung vào ba điểm cốt lõi. Một là chuyên nghiệp hóa đội ngũ lãnh đạo. Phải trả người quản trị về đúng vai trò kỹ trị của họ. Hãy để họ tập trung toàn lực vào việc điều hành doanh nghiệp thay vì phải phân tâm làm "nhà chính trị" bất đắc dĩ.
Hai là thay đổi tư duy nhân sự. Những người đứng đầu không đủ khát vọng hoặc không dám làm thì tốt nhất nên được thay thế bằng những người có chuyên môn và tư duy của những nhà quản trị chuyên nghiệp. Chúng ta cần những người thực sự muốn làm việc chứ không phải những người chỉ muốn giữ vị trí an toàn.
Ba là kiến tạo cơ chế thay vì chỉ giao chỉ tiêu. Tôi không quá lo về chất lượng nhân lực, cái tôi lo là chúng ta không tạo được điều kiện và cơ chế để người giỏi dám làm. Nhà nước cần tạo ra một "không gian quản trị" đủ thoáng để họ tự quyết định và tự chịu trách nhiệm.

Hợp tác trên cơ sở cùng thắng
Thưa bà, việc hợp tác giữa doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước) và doanh nghiệp tư nhân thường được nhắc đến như một giải pháp chiến lược. Vậy làm thế nào để sự hợp tác này thực sự hiệu quả?
Bà Phạm Chi Lan: Điều quan trọng nhất là đừng coi nhau như đối thủ cạnh tranh theo kiểu "bên thắng bên thua". Cả lực lượng "đặc biệt quan trọng" như doanh nghiệp nhà nước và khu vực "quan trọng nhất" như doanh nghiệp tư nhân phải hợp tác trên cơ sở cùng thắng để đất nước thắng. Đất nước không thể phát triển dựa trên việc hai lực lượng nội địa lớn nhất lại đi cạnh tranh lẫn nhau.
Tôi lấy ví dụ điển hình là siêu dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Tôi luôn mong muốn dự án này phải là một liên danh giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Một dự án khổng lồ như vậy liên quan đến vô số lĩnh vực chuyên môn, không một doanh nghiệp đơn lẻ nào, dù là nhà nước hay tư nhân, đủ sức làm hết.
Trong mô hình này, mỗi bên sẽ phát huy thế mạnh cốt lõi của mình. doanh nghiệp nhà nước (như Tổng công ty Đường sắt) có thể đóng vai trò then chốt trong việc nắm giữ mạng lưới, quy hoạch các tuyến nhánh kết nối và đề xuất cơ chế vận hành quốc gia. Đây là vai trò không thể thay thế vì liên quan đến trục xương sống của nền kinh tế.
Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân (như Hòa Phát, THACO) có sự linh hoạt, nguồn lực tài chính và khả năng huy động công nghệ rất nhanh. Khi Hòa Phát đã đầu tư làm thép đường ray với đối tác hàng đầu thế giới, nhà nước nên để họ làm. Tổng công ty Đường sắt không nên nhảy vào làm thêm một dự án thép đường ray khác để rồi hai "ông lớn" trong nước lại cạnh tranh xuống đáy với nhau.
Thay vào đó, chúng ta nên khuyến khích các liên danh nội địa. Tư nhân có thể lo phần xây lắp, vật liệu, thiết bị công nghiệp; nhà nước lo phần hạ tầng chiến lược, kết nối mạng lưới và giám sát tiêu chuẩn. Nếu cần, chúng ta có thể mời doanh nghiệp nước ngoài tham gia nhưng với điều kiện bắt buộc là chuyển giao công nghệ để sau này chúng ta làm chủ dự án.
Nguyên tắc vàng ở đây vẫn nên là cái gì tư nhân đang làm tốt hoặc có thể làm tốt hơn thì hãy để cho tư nhân làm. Doanh nghiệp nhà nước nên tập trung vào những mảng công nghệ mới, hệ thống nền tảng mà tư nhân chưa vươn tới được. Chỉ khi tạo ra được một hệ sinh thái cộng sinh thay vì đối đầu, chúng ta mới thực sự biến Nghị quyết 79 thành động lực phát triển thực chất cho nền kinh tế.
Xin cảm ơn bà!
(Còn tiếp...)
Văn hóa nghĩa tình trong các doanh nghiệp nhà nước lớn
Ba nỗi sợ được hoá giải, doanh nghiệp tư nhân xông pha đầu tư dự án lớn
Các doanh nghiệp tư nhân liên tiếp đề xuất các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực hạ tầng, xâm nhập các lĩnh vực vốn là “sân chơi” truyền thống của doanh nghiệp nhà nước.
Tập đoàn nhà nước 'lên đời' quản trị nhờ chuyển đổi số
Nhiều doanh nghiệp nhà nước như VNPT, Petrovietnam, EVN… đã bắt đầu gặt hái những 'trái ngọt' đầu tiên nhờ triển khai chuyển đổi số hiệu quả.
Loạt doanh nghiệp nhà nước đối mặt nguy cơ hủy niêm yết vì mất tư cách đại chúng
Gần đây, nhiều doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn trên thị trường chứng khoán đã thông báo về việc chưa đáp ứng tiêu chí công ty đại chúng theo quy định mới.
Buông để đi xa hơn: Năng lực chiến lược của lãnh đạo doanh nghiệp
Giới hạn của doanh nghiệp nằm ở người sáng lập. Khi người chủ doanh nghiệp biết buông, doanh nghiệp mới thật sự được "sống".
Tái định vị kinh tế nhà nước - Bài 2: Từ chủ đạo sang kiến tạo, dẫn dắt
Vai trò "chủ đạo" của kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới không còn được đo bằng mức độ nắm giữ mà bằng năng lực kiến tạo thể chế và dẫn dắt thị trường.
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân
Tòa soạn trân trọng giới thiệu bài viết "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân" của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Để trái phiếu thực sự thành kênh huy động vốn mới của nền kinh tế
Theo bà Nguyễn Thu Bình, Quyền Giám đốc quản trị rủi ro PVI AM, việc chuyển dịch trọng tâm sang các kênh dẫn vốn mới như trái phiếu doanh nghiệp được xem là giải pháp phù hợp cho tăng trưởng.
Nữ phó tổng giám đốc Coteccons: 'Quản trị ngành xây dựng cần trái tim nóng và dám trao chiếc áo rộng'
Người ta thường mặc định ngành xây dựng là thế giới của sắt, thép khô khan, của những công trường ngổn ngang và những đôi giày lấm lem bùn đất. Bà Nguyễn Trình Thùy Trang không chọn tranh luận với định kiến đó, mà thể hiện bằng cách làm thật.
Khi văn hóa đi trước một bước tại Petrovietnam
Coi trọng phát triển văn hóa để làm điều kiện dẫn dắt phát triển kinh tế, Petrovietnam xác định tái tạo văn hóa phải đi trước để tạo đà cho tái tạo kinh doanh.
Tái định vị kinh tế nhà nước - Bài 4: Một hệ sinh thái cùng thắng giữa nhà nước và khu vực tư nhân
Đã đến lúc đưa doanh nghiệp nhà nước trở lại quỹ đạo quản trị chuyên nghiệp và hình thành một hệ sinh thái cùng thắng giữa nhà nước và khu vực tư nhân.
Quyết liệt giữ vững an ninh năng lượng, ổn định giá xăng dầu
Chính phủ xác lập các giải pháp mạnh mẽ nhằm kịp thời bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, ổn định thị trường xăng dầu trước khủng hoảng năng lượng toàn cầu.
Capella Group của doanh nhân Phương Hữu Việt tìm 'mảnh ghép' mới tại Chứng khoán DNSE
Động thái đưa nhân sự cấp cao từ hệ sinh thái Capella Group vào HĐQT DNSE cho thấy định hướng tăng minh bạch và siết chặt giám sát hoạt động từ phía cổ đông lớn.
Cuộc dịch chuyển chiến lược sang 'siêu đô thị thế hệ mới' của Việt Nam
Những mô hình siêu đô thị thế hệ mới với cấu trúc đa trung tâm, hạ tầng thông minh và hệ sinh thái sống toàn diện sẽ là xu hướng phát triển đô thị tương lai của Việt Nam.
TP.HCM tiên phong lập hiệp hội quản lý vận hành chung cư
Hiệp hội Quản lý vận hành nhà chung cư TP.HCM (HCMO) vừa ra mắt và tổ chức đại hội lần đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của hiệp hội nghề đầu tiên tại Việt Nam trong lĩnh vực quản lý vận hành nhà chung cư.
Cẩm nang đầu tư trực tuyến cho nhà đầu tư mới
Đầu tư trực tuyến đang mở ra một kỷ nguyên mới, mang lại cơ hội tiếp cận linh hoạt và chi phí thấp cho các sản phẩm tài chính đa dạng.













