Quy mô bảng cân đối của 27 ngân hàng tiếp tục mở rộng
Tổng tài sản tăng nhanh hơn tiền gửi khách hàng, trong khi cho vay tiếp tục là cấu phần lớn nhất; đơn vị: nghìn tỷ đồng.
Nguồn: Tổng hợp BCTC quý II/2026 của 27 ngân hàng niêm yết.
Một bảng cân đối lớn hơn chưa chắc đã đồng nghĩa với một ngân hàng khỏe hơn.
Tổng tài sản có thể tăng nhờ tín dụng được đẩy mạnh, nhưng cũng có thể tăng do ngân hàng gửi thêm tiền trên thị trường liên ngân hàng, mở rộng danh mục trái phiếu hoặc tích lũy các tài sản thanh khoản. Tương tự, tăng trưởng tài sản có thể được tài trợ bởi tiền gửi khách hàng ổn định, nhưng cũng có thể dựa nhiều hơn vào vay liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá với chi phí nhạy cảm hơn trước biến động lãi suất.
Vì vậy, con số đáng chú ý nhất trong báo cáo tài chính quý II/2026 của 27 ngân hàng niêm yết không chỉ là tổng tài sản đã vượt 22,6 triệu tỷ đồng. Điều đáng chú ý hơn nằm ở cấu trúc phía sau: tín dụng đang trở thành động cơ gần như tuyệt đối của tăng trưởng tài sản, trong khi tiền gửi khách hàng chưa theo kịp tốc độ mở rộng cho vay.

Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản của 27 ngân hàng niêm yết đạt 22,628 triệu tỷ đồng, tăng 956.024 tỷ đồng, tương đương 4,41% so với cuối quý I.
So với cùng kỳ năm trước, quy mô tài sản tăng thêm gần 3,78 triệu tỷ đồng, tương ứng mức tăng 20,05%.
Độ rộng của xu hướng tăng khá lớn. Có 26 trong số 27 ngân hàng mở rộng tổng tài sản so với cuối tháng 3, trong khi chỉ Eximbank ghi nhận mức giảm. Trung vị tăng trưởng tài sản của nhóm đạt 4,18% theo quý và 16,59% so với cùng kỳ.
Điều đó cho thấy sự mở rộng bảng cân đối không phải hiện tượng riêng của một vài ngân hàng lớn. Xu hướng tăng hiện diện ở gần như toàn bộ nhóm ngân hàng niêm yết, từ các nhà băng có tổng tài sản hàng triệu tỷ đồng đến những ngân hàng quy mô nhỏ hơn.
Tuy nhiên, mức tăng 20,05% tổng tài sản không thể được diễn giải thành tín dụng cho nền kinh tế tăng tương ứng 20,05%.
Ngoài cho vay khách hàng, tài sản ngân hàng còn bao gồm tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác, chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và nhiều khoản mục khác. Muốn hiểu sự mở rộng của hệ thống ngân hàng đang phản ánh điều gì, cần bóc tách xem gần 1 triệu tỷ đồng tài sản tăng thêm trong quý II đã chảy vào đâu.
BIDV tiếp tục giữ vị trí ngân hàng có quy mô lớn nhất trong nhóm niêm yết, với tổng tài sản 3,441 triệu tỷ đồng tại cuối quý II/2026.
Đứng sau là VietinBank với 2,962 triệu tỷ đồng và Vietcombank với 2,657 triệu tỷ đồng. Chỉ riêng ba ngân hàng này đã nắm khoảng 40% tổng tài sản của toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết.
MBBank đứng thứ tư với 1,733 triệu tỷ đồng, tiếp theo là VPBank với hơn 1,502 triệu tỷ đồng và Techcombank với 1,273 triệu tỷ đồng. ACB và HDBank cũng đã vượt ngưỡng 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản.
Mức độ tập trung của bảng cân đối ngân hàng vì vậy vẫn rất cao. Năm ngân hàng lớn nhất chiếm hơn 54% tổng tài sản của 27 ngân hàng, trong khi nhóm 10 ngân hàng đứng đầu nắm khoảng 77,5%.
Nhưng bảng xếp hạng về quy mô không trùng với bảng xếp hạng về tốc độ tăng trưởng.
So với cuối quý I/2026, NCB là ngân hàng tăng tổng tài sản nhanh nhất, với mức tăng 14,64%. Bac A Bank đứng thứ hai với 10,74%, tiếp theo là Nam A Bank với 10,34%, VPBank với 9,51% và VietBank với 7,68%.
So với cùng kỳ năm trước, Nam A Bank dẫn đầu với mức tăng 43,43%. Các vị trí tiếp theo thuộc về NCB, VPBank, MB và HDBank, với tốc độ tăng lần lượt 38,07%, 36,01%, 34,38% và 33,33%.
Những con số này phản ánh lợi thế về nền so sánh của các ngân hàng quy mô nhỏ và trung bình. Chỉ cần bổ sung vài chục nghìn tỷ đồng tài sản, một ngân hàng nhỏ có thể đạt tốc độ tăng hai chữ số trong một quý.
Trong khi đó, với các ngân hàng có tổng tài sản lên tới hàng triệu tỷ đồng, mức tăng chỉ vài phần trăm cũng tương ứng với lượng tài sản bổ sung rất lớn.

Xét theo giá trị tuyệt đối, VPBank mới là ngân hàng tăng tài sản nhiều nhất trong quý II, với hơn 130.500 tỷ đồng. MBBank tăng gần 121.800 tỷ đồng, Vietcombank tăng hơn 106.400 tỷ đồng, Techcombank tăng khoảng 82.600 tỷ đồng và HDBank tăng hơn 61.200 tỷ đồng.
Năm ngân hàng này đóng góp hơn một nửa mức tăng tổng tài sản của toàn bộ khối ngân hàng niêm yết.
Ở chiều ngược lại, Eximbank giảm 1,44% tổng tài sản so với cuối quý I. Saigonbank chỉ tăng 0,46%, VietinBank tăng 1,29%, BIDV tăng 1,55% và OCB tăng 2,22%.
Tuy nhiên, tăng tài sản chậm không mặc nhiên là tín hiệu tiêu cực. Một ngân hàng có thể chủ động giảm tiền gửi liên ngân hàng, thu hẹp danh mục chứng khoán hoặc tối ưu tài sản thanh khoản mà không làm suy yếu hoạt động tín dụng cốt lõi. Với các ngân hàng rất lớn như BIDV và VietinBank, mức tăng thấp tính theo tỷ lệ vẫn tạo ra hàng chục nghìn tỷ đồng tài sản mới.
Bởi vậy, tốc độ tăng tổng tài sản chỉ cho thấy ngân hàng đang mở rộng nhanh hay chậm. Nó chưa trả lời được sự mở rộng đó có thực sự tạo thêm lợi nhuận và giá trị hay không.
(Những vấn đề này sẽ được TheLEADER phân tích trong các bài tiếp theo của chuyên đề "Toàn cảnh ngân hàng".)
Câu trả lời rõ nhất về động lực tăng trưởng nằm ở khoản mục cho vay khách hàng.
Trong quý II, cho vay khách hàng ròng của 27 ngân hàng tăng gần 732.850 tỷ đồng, đóng góp khoảng 76,7% mức tăng tổng tài sản. Nếu tính theo dư nợ gộp trước dự phòng, cho vay khách hàng tăng hơn 744.400 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 5,07% so với cuối quý I.
Nói cách khác, hơn ba phần tư lượng tài sản được bổ sung vào bảng cân đối của các ngân hàng trong quý II đến từ việc mở rộng tín dụng.
Các cấu phần còn lại có đóng góp nhỏ hơn đáng kể. Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước tăng gần 134.900 tỷ đồng, chứng khoán đầu tư tăng khoảng 97.000 tỷ đồng và tài sản có khác tăng hơn 57.000 tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác giảm hơn 91.100 tỷ đồng.
Sự dịch chuyển này cho thấy một phần nguồn lực trước đó được giữ trên thị trường liên ngân hàng đã được chuyển sang cho vay khách hàng và các tài sản có khả năng sinh lời cao hơn.
Đây là diễn biến thường thấy khi nhu cầu vốn của nền kinh tế cải thiện và các ngân hàng có điều kiện đẩy nhanh giải ngân. Thay vì duy trì lượng lớn tài sản có lợi suất thấp trên thị trường tiền tệ, ngân hàng đưa vốn vào hoạt động tín dụng để tìm kiếm biên lợi nhuận tốt hơn.
Tuy nhiên, nhìn trong khoảng thời gian một năm, câu chuyện không hoàn toàn giống như trong riêng quý II.
So với cuối quý II/2025, cho vay khách hàng ròng tăng hơn 2,3 triệu tỷ đồng và vẫn là động lực lớn nhất. Nhưng tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác cũng tăng khoảng 882.600 tỷ đồng, đóng góp gần một phần tư mức tăng tổng tài sản.
Do đó, tốc độ tăng 20,05% của tổng tài sản trong một năm không chỉ phản ánh sự mở rộng tín dụng. Một phần đáng kể còn đến từ việc gia tăng tài sản trên thị trường liên ngân hàng và các khoản mục thanh khoản khác.
Sự khác biệt giữa hai góc nhìn cho thấy quý II/2026 có thể là giai đoạn các ngân hàng bắt đầu chuyển mạnh hơn từ trạng thái tích lũy thanh khoản sang trạng thái đưa vốn vào nền kinh tế.
Tín dụng tăng nhanh là điều kiện để các ngân hàng mở rộng thu nhập lãi. Nhưng tín dụng chỉ có thể tiếp tục tăng nếu ngân hàng tìm được nguồn vốn đủ lớn, đủ ổn định và có chi phí hợp lý để tài trợ.
Đây là nơi bảng cân đối quý II bắt đầu cho thấy một khoảng cách đáng chú ý.
Trong quý, cho vay khách hàng tăng 5,07%, trong khi tiền gửi khách hàng tăng 4,82%. Chênh lệch không quá lớn nếu chỉ nhìn trong ba tháng, nhưng trở nên rõ ràng hơn khi kéo dài khoảng thời gian so sánh.
So với cuối năm 2025, cho vay khách hàng của 27 ngân hàng tăng 8,88%, trong khi tiền gửi khách hàng chỉ tăng 5,45%.
Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng tính theo số liệu kế toán vì vậy tăng từ 110,58% cuối năm 2025 lên 113,91% cuối quý I và 114,18% cuối quý II/2026.
Đây không phải tỷ lệ LDR được tính theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, do cách tính pháp lý còn điều chỉnh phạm vi dư nợ và nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, chỉ tiêu kế toán vẫn cho thấy xu hướng tín dụng đang đi nhanh hơn nguồn tiền gửi truyền thống.
Khoảng thiếu hụt được các ngân hàng bù đắp bằng những nguồn vốn khác.
Trong quý II, tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác tăng hơn 104.000 tỷ đồng. Phát hành giấy tờ có giá tăng khoảng 118.000 tỷ đồng, trong khi các khoản nợ khác tăng hơn 73.000 tỷ đồng.
So với cùng kỳ, tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác tăng tới 45,58%, phát hành giấy tờ có giá tăng 23,88%, trong khi tiền gửi khách hàng tăng 11,96%.
Tỷ trọng tiền gửi khách hàng trong tổng tài sản theo đó giảm từ 63,98% cuối quý II/2025 xuống còn 59,67% tại cuối quý II/2026.
Diễn biến này chưa đủ để kết luận hệ thống ngân hàng đang gặp vấn đề về thanh khoản. Vay liên ngân hàng hoặc phát hành giấy tờ có giá có thể là chiến lược chủ động nhằm đa dạng hóa nguồn vốn, cân đối kỳ hạn hoặc tận dụng các điều kiện thị trường thuận lợi.
Nhưng cấu trúc nguồn vốn mới có đặc điểm nhạy cảm hơn với lãi suất.
Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi dân cư thường có tính ổn định cao hơn, trong khi vốn liên ngân hàng có thể biến động nhanh theo điều kiện thanh khoản thị trường. Giấy tờ có giá cũng thường có chi phí cao hơn tiền gửi không kỳ hạn và tạo nghĩa vụ đáo hạn tập trung vào những thời điểm nhất định.
Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi trong nửa cuối năm, áp lực huy động vốn và cạnh tranh lãi suất tiền gửi có thể gia tăng. Khi đó, khả năng mở rộng tín dụng sẽ không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu vay vốn, mà còn phụ thuộc vào năng lực huy động và quản trị kỳ hạn của từng ngân hàng.
Một ngân hàng có thể làm tổng tài sản tăng rất nhanh bằng cách mở rộng cho vay. Nhưng chất lượng của tăng trưởng chỉ được xác nhận khi các khoản tín dụng mới tạo ra thu nhập và không biến thành nợ xấu trong tương lai.
Tổng nợ nhóm 3, 4 và 5 của 27 ngân hàng đạt khoảng 310.070 tỷ đồng tại cuối quý II, tăng 6,10% so với cuối quý I và tăng 15,38% so với cùng kỳ.
Tỷ lệ nợ xấu tổng hợp đạt 2,01%, tăng nhẹ so với mức 1,99% cuối quý I và mức 1,87% cuối năm 2025. So với mức 2,05% của quý II/2025, tỷ lệ nợ xấu hiện vẫn thấp hơn một chút.
Diễn biến này cho thấy chất lượng tài sản chưa xấu đi đột biến ở cấp độ toàn mẫu, nhưng nợ xấu đang có xu hướng quay trở lại sau khi giảm vào cuối năm trước.
Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm từ 82,74% cuối năm 2025 xuống 79,76% cuối quý I và 78,91% cuối quý II/2026.
Nợ xấu tăng nhanh hơn dự phòng khiến bộ đệm bao phủ bị thu hẹp, dù mức thay đổi chưa lớn.
Kết quả kinh doanh sáu tháng vẫn cho thấy mặt tích cực. Thu nhập lãi thuần của 27 ngân hàng tăng 16,82%, tổng thu nhập hoạt động tăng 17,13%, lợi nhuận trước thuế tăng 19,54% và lợi nhuận sau thuế tăng 19,84%.
Tuy nhiên, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 22,03%, nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập và lợi nhuận.
Điều này cho thấy việc mở rộng bảng cân đối đã giúp các ngân hàng gia tăng lợi nhuận, nhưng đồng thời cũng kéo theo chi phí rủi ro lớn hơn. Khi tín dụng tăng nhanh, lợi nhuận có thể được ghi nhận sớm, trong khi rủi ro của các khoản vay thường chỉ bộc lộ sau một độ trễ nhất định.
Bởi vậy, mức tăng tài sản trong một quý chưa đủ để khẳng định ngân hàng nào đang có chất lượng tăng trưởng tốt nhất. Cần đặt tốc độ tăng tài sản bên cạnh tăng trưởng thu nhập lãi, biên lãi ròng, chi phí vốn, nợ xấu hình thành mới, tỷ lệ bao phủ và mức độ tập trung tín dụng theo ngành.
Sự mở rộng mạnh của tín dụng ngân hàng diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế được đẩy lên mức cao.
GDP Việt Nam quý II/2026 tăng 8,39% so với cùng kỳ, đưa tăng trưởng sáu tháng đầu năm lên 8,18%. CPI bình quân sáu tháng tăng 4,38%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,12%.
Đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025 và bổ sung khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vốn cho nền kinh tế.
Trong cùng khoảng thời gian, cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết tăng 8,88%, cao hơn mức tăng tín dụng chung được công bố cho toàn hệ thống.
Dữ liệu ngân hàng vì vậy phù hợp với bức tranh một nền kinh tế đang có nhu cầu vốn lớn hơn cho đầu tư, sản xuất, thương mại, tiêu dùng và phát triển hạ tầng.
Tuy nhiên, tốc độ tín dụng cao cũng làm không gian điều hành trở nên hẹp hơn.
Khi cho vay tăng nhanh hơn tiền gửi, các ngân hàng phải cạnh tranh nhiều hơn để huy động vốn. Khi tín dụng tăng trong bối cảnh lạm phát vẫn ở mức tương đối cao, nhà điều hành phải cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng, giữ ổn định lãi suất, kiểm soát tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống.
Vì vậy, bảng cân đối quý II/2026 phản ánh đồng thời hai mặt của nền kinh tế.
Một mặt, tín dụng tăng tốc cho thấy doanh nghiệp và người dân đang hấp thụ nhiều vốn hơn, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, tốc độ tín dụng vượt lên trên tốc độ tiền gửi khiến chi phí vốn, thanh khoản và chất lượng tài sản trở thành những biến số cần được theo dõi chặt chẽ hơn.
Tổng tài sản của 27 ngân hàng đã tăng thêm gần 1 triệu tỷ đồng chỉ trong ba tháng và tăng hơn 20% so với cùng kỳ. Đây là một trong những dấu hiệu rõ nhất cho thấy hệ thống ngân hàng đang bước vào pha mở rộng bảng cân đối mạnh.
Nhưng đằng sau mức tăng ấy là một sự thay đổi quan trọng trong cấu trúc tăng trưởng.
Tín dụng đang thay thế tài sản liên ngân hàng để trở thành động lực gần như tuyệt đối trong quý II. Cho vay tăng nhanh hơn tiền gửi, khiến các ngân hàng phải sử dụng nhiều hơn vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá. Nợ xấu nhích lên, tỷ lệ bao phủ giảm nhẹ và chi phí dự phòng tăng nhanh hơn thu nhập.
Bởi vậy, câu hỏi quan trọng trong nửa cuối năm không chỉ là ngân hàng nào tăng tổng tài sản nhanh nhất.
Câu hỏi lớn hơn là ngân hàng nào có thể duy trì tăng trưởng tín dụng mà không phải trả giá quá cao cho nguồn vốn, không làm suy giảm biên lợi nhuận và không bào mòn bộ đệm dự phòng.
Quy mô tạo ra vị thế. Tốc độ tạo ra cơ hội. Nhưng chính cấu trúc nguồn vốn và chất lượng tài sản mới quyết định sự mở rộng đó có thể đi được bao xa.
* Bài viết thuộc Chuyên đề "Toàn cảnh ngân hàng Việt Nam: Từ báo cáo tài chính đến mạch nhịp kinh tế"

Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng tăng hơn 22%, tín dụng tiến sát kế hoạch và nợ xấu vẫn trong vùng kiểm soát, nhưng áp lực biên lãi và nguồn vốn cần được theo dõi.
VPBank tăng mạnh tổng tài sản, cho vay và lợi nhuận trong quý II/2026. Sau nửa đầu năm, ngân hàng đã đi được bao xa so với kế hoạch 2026?
LPBank gần hoàn thành kế hoạch tổng tài sản và tín dụng sau 6 tháng 2026, nhưng lợi nhuận trước thuế mới đạt khoảng 40% mục tiêu năm. Nửa cuối năm sẽ quyết định khả năng cán đích lợi nhuận.
Các quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán tỏ ra hụt hơi trong nửa đầu năm đặt ra những câu hỏi lớn trong giai đoạn phát triển tiếp theo của thị trường vốn.
Ngân hàng vẫn giữ vai trò trung tâm của hệ thống tài chính nhưng thị trường vốn sẽ từng bước chia sẻ chức năng cung ứng nguồn lực dài hạn cho nền kinh tế.
Việt Nam đặt mục tiêu nghiên cứu và triển khai thử nghiệm đồng tiền kỹ thuật số quốc gia (CBDC) do Ngân hàng Nhà nước bảo đảm giá trị trong giai đoạn 2029-2030.
Cùng với tăng trưởng về quy mô, ngân hàng tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động, kiểm soát chất lượng tài sản. Vốn điều lệ tăng lên mức 53.442 tỷ đồng.
Quyết định được ban hành trong bối cảnh Chính phủ đang triển khai Nghị quyết số 168 nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên.
Tổng tài sản của 27 ngân hàng niêm yết tăng gần 1 triệu tỷ đồng chỉ trong quý II/2026. Tín dụng là động lực chính của sự mở rộng này, nhưng khoảng cách ngày càng lớn giữa tăng trưởng cho vay và tiền gửi cho thấy phần khó của cuộc đua tăng trưởng đang chuyển dần từ phía tài sản sang phía nguồn vốn.
Thị trường vận tải biển phục hồi mạnh mẽ khi mùa cao điểm đến sớm hơn thường lệ, nguồn cung khan hiếm đẩy giá cước lên cao.
Đằng sau hành trình Go Digital – Go Global của Masan không chỉ là những khoản đầu tư vào công nghệ hay mở rộng kinh doanh, mà còn là chiến lược đầu tư dài hạn vào con người.
Qua chặng đường 15 năm kiên định theo đuổi phát triển bền vững, Tập đoàn TH không ngừng ghi dấu ấn với loạt sáng kiến giảm nhựa thiết thực: Từ việc loại bỏ màng co nắp chai đến thu gom bao bì, mở ra "vòng đời tái sinh" cho những vỏ hộp giấy.
Lãi suất ngân hàng hôm nay 5/8 tiếp tục ghi nhận sự phân hóa rõ giữa các nhóm ngân hàng. HDBank hiện dẫn đầu với mức 7,6%/năm.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) ký kết hợp tác với 5 cơ sở giáo dục đại học, hướng tới xây dựng các trung tâm nghiên cứu, hệ sinh thái AI chuyên ngành và chương trình phát triển nguồn nhân lực số. Sự kiện mở ra mạng lưới liên kết giữa đại học và ngân hàng, đưa tri thức từ giảng đường đến gần hơn với bài toán thực tiễn, góp phần phát triển năng lực AI quốc gia và đưa trí tuệ Việt Nam vươn tầm khu vực, quốc tế.
Cơ chế đặc thù về ngân sách, thuế, đất đai, đầu tư và bảo đảm nguồn nguyên liệu đang được các bộ, ngành rà soát, thẩm định nhằm tạo cơ sở triển khai Trung tâm lọc hoá dầu và năng lượng quốc gia tại Quảng Ngãi.