Nội lực của Việt Nam trong bối cảnh thách thức bủa vây
Các chuyên gia HSBC cho rằng đối với Việt Nam, nhiều yếu tố mang tính cấu trúc vẫn không bị ảnh hưởng bất chấp các biến động.
Việt Nam đang đứng trước một ngưỡng cửa lịch sử với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững giai đoạn 2026 – 2030. Tuy nhiên, hiện thực hóa tầm nhìn này đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư khổng lồ khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2021 – 2025, theo tính toán từ Bộ Tài chính.
Trong bức tranh ấy, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ được coi là nguồn bù đắp thiếu hụt tài chính mà còn là một trong những động lực chính khi đóng góp phần lớn trong tổng cơ cấu vốn cùng với khu vực kinh tế tư nhân trong nước.
Tuy nhiên, bài toán giờ đây không còn nằm ở số lượng hay quy mô của dòng vốn FDI. Việt Nam đang định hướng và tiến tới cuộc chuyển dịch về chất lượng dòng vốn để xây dựng một nền kinh tế tự chủ.
Thỏi nam châm của dòng vốn FDI toàn cầu
Sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư quốc tế không phải bây giờ mới rõ ràng. Hình ảnh về một đất nước nhiều cơ hội phát triển đã thu hút hàng loạt các doanh nghiệp nước ngoài lớn về “làm tổ”, đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng về thu hút FDI trên bản đồ toàn cầu trong suốt nhiều năm qua.
Đáng chú ý, hàng loạt các lĩnh vực mới với hàm lượng công nghệ cao đang được mở ra thời gian gần đây, cho thấy một thị trường đang dịch chuyển cao hơn trong chuỗi giá trị.
Đơn cử, những ngày đầu tháng 4 vừa qua, đoàn 52 doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác kinh tế khi chỉ trong ba ngày, 18 cuộc họp cấp cao đã diễn ra với sự tham gia của gần 130 đại biểu từ các lĩnh vực mũi nhọn. Đó là năng lượng, công nghệ bán dẫn, hàng không vũ trụ và y tế, tái khẳng định cam kết hỗ trợ của các nhà đầu tư đến từ bên kia bán cầu cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của đất nước.
Không dừng lại ở đó, làn sóng đầu tư từ Hàn Quốc và châu Âu cũng bùng nổ mạnh mẽ.
Diễn đàn kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc vừa qua đã chứng kiến lễ trao 73 văn bản ký kết hợp tác, với những cam kết cụ thể từ SK Group trong việc xây dựng trung tâm dữ liệu AI, năng lượng tái tạo và Samsung với các hoạt động đào tạo nhân tài công nghệ.
Đối với các doanh nghiệp châu Âu, niềm tin vẫn duy trì ở mức cực cao khi có tới 93% doanh nghiệp khẳng định sẽ tiếp tục giới thiệu thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư khác.
Những chuyển động này, cùng với các thị trường rót vốn vào Việt Nam khác, đã đưa dòng vốn FDI giải ngân vào Việt Nam năm ngoái lên mức cao nhất trong 5 năm, khẳng định vị thế một mắt xích không thể thay thế trong quá trình tái định vị chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nghịch lý "hai Khu vực"
Dù đạt được những con số tích cực, thực trạng nền kinh tế lại bộc lộ sự mất cân bằng giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa.
Báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới (WB) chỉ ra rằng, các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chỉ chiếm khoảng 5% tổng số doanh nghiệp nhưng lại tạo ra hơn một nửa giá trị gia tăng và việc làm.
Đồng thời, chiếm tới hơn 70% kim ngạch xuất khẩu, cho thấy vai trò sản xuất vượt trội của khu vực này.
Sử dụng mô hình năng suất nhân tố tổng hợp dựa trên doanh thu (TFPR) như một thước đo thay thế cho khoảng cách công nghệ cũng chỉ ra sự chênh lệch năng suất. Trong đó, khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn còn phân mảnh và năng suất thấp với 98% có quy mô nhỏ hoặc hoạt động phi chính thức.
WB nhấn mạnh, cấu trúc hai khu vực này làm hạn chế quá trình hội tụ năng suất, làm giảm khả năng giữ lại giá trị gia tăng trong nước và làm suy yếu mức độ lan tỏa của tăng trưởng sang việc làm có chất lượng cao hơn và bao trùm hơn.
Đáng chú ý, liên kết yếu giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước là nguyên nhân cốt lõi.
Các doanh nghiệp FDI nhập khẩu hơn 50% đầu vào phục vụ xuất khẩu – một tỷ lệ cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước còn thiếu năng lực đế tham gia vào các chuối cung ứng này.
Ngay cả trong các ngành mũi nhọn, sự tham gia của nhà cung ứng trong nước vẫn còn hạn chế do khoảng cách về kỹ năng, năng lực quản trị yếu và mức độ ứng dụng công nghệ thấp.
Đáng lo hơn, theo dữ liệu tổng hợp từ EBC Financial Group, năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ bằng khoảng một nửa so với Thái Lan và 1/4 so với Malaysia. Cùng với đó, ước tính có tới 60 - 70% doanh nghiệp trong nước vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu, khiến họ không thể đáp ứng các chuẩn mực khắt khe về tính tuân thủ, khả năng mở rộng quy mô và chất lượng từ các nhà mua hàng toàn cầu.
Bản chất của dòng vốn FDI, thường tập trung vào khẩu lắp ráp có giá trị gia tăng thấp, cũng làm giảm động lực sử dụng nguồn cung trong nước và chuyển giao công nghệ, WB chỉ rõ.
Mặt khác, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển còn thấp, thiếu hụt lao động kỹ năng cao, khoảng trống về quản trị và các rào cản pháp lý làm gia tăng chi phí giao dịch và hạn chế năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước. Việc thực thi các quy định lao động chưa đồng đều tiếp tục cản trở lan tỏa tri thức và nâng cấp chất lượng việc làm.

Liên đoàn Công nghiệp và thương mại Việt Nam (VCCI) trong kết quả khảo sát mới nhất cho biết, tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân trong nước vừa gắn với khu vực FDI ở cả đầu vào và đầu ra chỉ ở mức 5,6% và với xuất khẩu là 3,7%. Điều này cho thấy mức độ kết nối của doanh nghiệp với khu vực FDI và chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn hạn chế so với các liên kết nội địa.
Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng ban Ban Chính sách chiến lược Trung ương, để đạt mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam vẫn cần và luôn cần sự tham gia hiện diện của các doanh nghiệp FDI trong cấu trúc tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, cách tiếp cận và tư duy đối với khu vực doanh nghiệp FDI cần phải thay đổi để tạo ra sự liên kết với doanh nghiệp trong nước, tức là làm sao vừa xây dựng được một nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường, tự chủ chiến lược nhưng cũng gắn với hội nhập, thu hút các dòng vốn quốc tế trong thời gian tới, ông Hiển nhấn mạnh.
Ông Sana Ur Rehman, Chuyên viên phân tích thị trường cấp cao tại EBC Financial Group, nhận định, giai đoạn hiện tại là một “bài kiểm tra” sức chống chịu đối với mô hình tăng trưởng của Việt Nam.
Đó là liệu nền kinh tế có thể chuyển hóa từ sự phụ thuộc vào các dòng chảy thương mại toàn cầu sang việc xây dựng sức bền cao hơn và tạo ra giá trị gia tăng nội địa lớn hơn trong các chuỗi cung ứng hay không.
Tư duy chọn lọc
Chất lượng trở thành thước đo duy nhất
TS. Frederic Neumann, Kinh tế trưởng khu vực châu Á - Thái Bình Dương của HSBC đánh giá, FDI rất có lợi với tăng trưởng kinh tế. Các doanh nghiệp nội địa có thể học hỏi từ những công ty lớn, có ưu thế linh hoạt hơn, hiểu luật chơi và hiểu địa phương hơn các công ty đa quốc gia đến từ Mỹ hay Nhật.
“Tôi vẫn luôn ủng hộ chiến lược thu hút FDI nhưng thời gian tới, cần điều tiết nhiều hơn như yêu cầu các doanh nghiệp này sử dụng nhà cung cấp ở địa phương”, vị chuyên gia khuyến nghị.
Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị ngày 4/5/2025 cũng đã đặt ra yêu cầu tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI.
Trong đó chỉ rõ, “áp dụng tỉ lệ nội địa hoá phù hợp theo lộ trình trong các ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên; đặt vấn đề các dự án FDI lớn phải có kế hoạch sử dụng chuỗi cung ứng nội địa ngay từ giai đoạn phê duyệt dự án”.
Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị Trung ương 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 cũng nhấn mạnh: “Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài sẽ được điều chỉnh theo hướng có chọn lọc, chuyển từ ưu đãi thuế sang ưu đãi theo kết quả, chú trọng chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước”.
Việc ưu đãi theo kết quả đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu được triển khai khiến ưu đãi về thuế không còn là lợi thế bền vững nữa.
Cùng với đó, các doanh nghiệp nội địa hiện đã có nội lực hơn, chủ động hơn trong cuộc chơi toàn cầu và sẵn sàng thay đổi để tham gia chuỗi cung ứng, áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và quản trị mới.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững khi bước vào giai đoạn 2026 – 2030 và dài hơn hơn, nhu cầu vốn đối với phát triển là khổng lổ với ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, 8 phần được kỳ vọng sẽ đến từ khu vực kinh tế tư nhân và FDI theo ước tính của Bộ Tài chính.
TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, tính toán cho biết, mỗi năm, Việt Nam cần khoảng 45 - 50 tỷ USD vốn cam kết và 35 - 40 tỷ USD vốn giải ngân từ khu vực FDI để duy trì đà tăng trưởng và bài toán đặt ra không chỉ là số lượng mà còn là chất lượng.
“FDI thế hệ mới có nghĩa là phải đảm bảo vào những dự án hỗ trợ tăng trưởng xanh, có trách nhiệm xã hội, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam và gia tăng giá trị nội tại cho nền kinh tế”, ông Bình giải thích.
Phát biểu chỉ đạo tại diễn đàn mới đây, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết, trong thời gian tới, chính phủ Việt Nam đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng có chọn lọc, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường và liên kết với doanh nghiệp trong nước làm tiêu chí chủ yếu.
Việt Nam sẽ ưu tiên thu hút các dự án trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, công nghệ sinh học, dược phẩm, năng lượng sạch, vật liệu mới, logistics hiện đại, dịch vụ tài chính, đổi mới sáng tạo và các ngành công nghệ chiến lược.
Đồng thời, phát triển mạnh doanh nghiệp trong nước và công nghiệp hỗ trợ để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. “Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Nhà nước sẽ tiếp tục có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tiếp cận tín dụng và kết nối các tập đoàn đa quốc gia”, Phó thủ tướng khẳng định.
Mục tiêu không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng mà quan trọng hơn, từng bước hình thành đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam có khả năng trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 trong các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Bên cạnh đó, Việt Nam tập trung phát triển hạ tầng chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ thu hút FDI thế hệ mới. Trong đó, triển khai các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng logistics, năng lượng, hạ tầng số, dữ liệu, khu công nghiệp thế hệ mới; thúc đẩy mạnh mẽ liên kết giữa nhà nước, nhà trường, nhà đầu tư nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghệ cao và công nghệ chiến lược.
Ngoài ra, Việt Nam sẽ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với khu vực FDI, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích nhà nước, nhà đầu tư và người dân, giữ vững độc lập, tự chủ, an ninh kinh tế và phát triển bền vững.
Phó thủ tướng chỉ rõ, Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư hoạt động đúng pháp luật, hiệu quả và lâu dài nhưng cũng kiên quyết xử lý các hành vi chuyển giá, gian lận thương mại, vi phạm môi trường, sử dụng công nghệ lạc hậu, vi phạm sở hữu trí tuệ.
Giải pháp cho tương lai bền vững
Trong bối cảnh yêu cầu mới về dòng vốn FDI, VCCI - đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước - đề xuất, cần nâng cao hiệu quả thực chất của các chương trình hỗ trợ kết nối chuỗi cung ứng bởi hiện gần 30% doanh nghiệp chưa biết đến các chương trình này, và trong số đã biết, gần một nửa vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận.
“Chúng tôi kiến nghị các bộ, ngành và chính quyền địa phương rà soát lại cách thức truyền thông, đơn giản hóa thủ tục đăng ký tham gia và thiết kế các chương trình theo hướng phân ngành, phân nhóm đối tượng cụ thể thay vì áp dụng đại trà”.
“Đặc biệt, cần ưu tiên kết nối nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa tham gia xuất khẩu với các doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi cung ứng trong nước và doanh nghiệp FDI, phù hợp với định hướng của Nghị quyết 68-NQ/TW”, VCCI chỉ rõ.
Ở góc độ từ cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài, ông Tan Quee Peng, Chủ tịch SingCham Việt Nam cho biết, cạnh tranh thu hút FDI đã thay đổi đáng kể khi các nhà đầu tư không còn chỉ tập trung vào chi phí lao động hay ưu đãi thuế như trước đây.
Sự quan tâm giờ đây được chuyển dịch sang khả năng hỗ trợ chống chịu, năng lực đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và sự tích hợp hệ sinh thái của một nền kinh tế.
Dù có nhiều lợi thế, Việt Nam vẫn cần cải thiện tính dự báo của chính sách, tính minh bạch và hiệu quả thực thi. Theo đó, các chính sách cần được triển khai nhất quán giữa các địa phương, đi kèm với những quy định ổn định và thủ tục cấp phép hiệu quả để tránh sự thiếu rõ ràng cho nhà đầu tư, ông Tan Quee Peng khuyến nghị.
Dưới lăng kính của chiến lược Trung Quốc +1, Việt Nam hiện đang nằm trong cuộc đua khốc liệt nhằm thu hút dòng vốn toàn cầu cùng với các "đối thủ" nặng ký như Ấn Độ, Indonesia và Mexico.
Theo ông Sana Ur Rehman, các nhà đầu tư toàn cầu ngày càng đánh giá các quốc gia không chỉ dựa trên lợi thế nhân công giá rẻ hay tăng trưởng xuất khẩu bề nổi mà dựa vào chiều sâu của chuỗi cung ứng địa phương, chất lượng lao động tay nghề cao, an ninh năng lượng, sự ổn định của hệ thống thể chế, năng lực công nghệ và các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nội địa.
"Cục diện cạnh tranh toàn cầu trong giai đoạn tới sẽ không được định đoạt bởi việc quốc gia nào xây dựng được nhà máy nhanh nhất, mà là quốc gia nào có khả năng kiến tạo được một hệ sinh thái công nghiệp nội địa vững mạnh nhất xoay quanh các nhà máy đó. Và đó chính là nơi năng lực cạnh tranh dài hạn của Việt Nam sẽ trải qua phép thử mang tính quyết định", ông Rehman khẳng định.
Các chuyên gia HSBC cho rằng đối với Việt Nam, nhiều yếu tố mang tính cấu trúc vẫn không bị ảnh hưởng bất chấp các biến động.
Xu hướng này có thể tái định hình cấu trúc ngành và nhóm doanh nghiệp hưởng lợi dài hạn, đặc biệt là bất động sản khu công nghiệp và doanh nghiệp công nghệ.
Giai đoạn 2026 - 2030 được nhiều chuyên gia xem là “thời điểm vàng” để Việt Nam bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình. Khác với giai đoạn trước dựa trên lợi thế lao động giá rẻ, FDI và khai thác tài nguyên, động lực tăng trưởng mới đang dịch chuyển sang tri thức, công nghệ, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo.
Bước vào mùa cao điểm du lịch hè 2026, trước những biến động của giá nhiên liệu, giá vé máy bay tiếp tục tăng mạnh.
Việc tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế chỉ được thực hiện sau quá trình cảnh báo và liên hệ nhiều lần với người nộp thuế nhưng không nhận được phản hồi.
Mục tiêu được Hệ sinh thái tài chính hàng hải quốc tế (IMFC/IMFE) đặt ra là trong vòng 5 năm tới sẽ kéo khoảng 30% giá trị giao dịch tài chính hàng hải về lại Việt Nam, tương đương khoảng 300 tỷ USD mỗi năm.
Lợi nhuận quý I cao kỷ lục, làn sóng IPO công ty con dồn dập nhưng lạm phát và lãi suất lại đang tạo ra 'gọng kìm' siết chặt sức mua. Ngành bán lẻ 2026 đang đứng trước phép thử bản lĩnh thực sự.
Việc luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm trong xử lý nợ xấu là tín hiệu cho thấy hệ thống pháp luật đang dịch chuyển theo hướng minh bạch, ổn định, giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên mới nổi vào năm 2026 đang ở giai đoạn nước rút.
Định hướng thu hút FDI mới của Việt Nam theo hướng có chọn lọc, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Giá vàng hôm nay 25/5/2026 tăng lại 500.000 đồng/lượng với cả vàng miếng và vàng nhẫn, khi giá quốc tế bật tăng rồi hạ nhiệt vào sáng nay vì Mỹ và Iran.
Tổng công ty Thép Việt Nam – Vnsteel đang tỏ ra đuối sức trong vòng xoáy đầu tư dàn trải, đòn bẩy tài chính cao và những khối tài sản “đóng băng” kéo dài nhiều năm.
Bước vào mùa cao điểm du lịch hè 2026, trước những biến động của giá nhiên liệu, giá vé máy bay tiếp tục tăng mạnh.
Việc tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế chỉ được thực hiện sau quá trình cảnh báo và liên hệ nhiều lần với người nộp thuế nhưng không nhận được phản hồi.
Người mua ngày càng thận trọng thì pháp lý minh bạch và tiến độ xây dựng thực tế đang trở thành những tiêu chí quan trọng khi lựa chọn bất động sản. Các dự án duy trì khả năng công khai thông tin và triển khai đúng tiến độ được thị trường quan tâm nhiều hơn.