Lợi nhuận ngân hàng sẽ phân hóa mạnh

Trần Anh - 10:34, 13/06/2024

TheLEADERTiềm năng cải thiện lợi nhuận sẽ thuộc về những ngân hàng có thể tối ưu chi phí vốn, gia tăng thu nhập ngoài lãi và tối ưu chi phí hoạt động.

Tự tin phục hồi

Theo kế hoạch kinh doanh cho năm 2024 từ 25 ngân hàng niêm yết, tổng lợi nhuận trước thuế của nhóm được kỳ vọng tăng khoảng 35,5% so với năm 2023, tương đương với mức tăng trưởng bùng nổ trong giai đoạn 2021–2022.

Bất chấp tín dụng tăng trưởng từ đầu năm đến nay khá thấp, các ngân hàng vẫn tự tin vào mục tiêu đề ra. Nếu nhìn lại quá khứ, ngoại trừ năm 2023 khá đặc biệt, đa số ngân hàng đặt mục tiêu theo hướng khả thi, thường vượt từ 3-7% so với kế hoạch.

Theo công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS), có ba động lực tăng trưởng lợi nhuận cho hệ thống ngân hàng trong thời gian tới là tối ưu chi phí vốn, gia tăng thu nhập ngoài lãi và tối ưu chi phí hoạt động.

Cụ thể, về động lực tối ưu chi phí vốn, VCBS cho rằng, trong bối cảnh môi trường lãi suất huy động đang chịu nhiều áp lực tăng trở lại, nhóm ngân hàng tư nhân có lợi thế về tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và linh động trong hoạt động huy động vốn (với mức độ phụ thuộc vào tiền gửi khách hàng không quá cao) sẽ có nhiều tiềm năng tối ưu hóa được chi phí vốn, qua đó cải thiện được lợi nhuận.

Về thu nhập ngoài lãi, các nguồn thu từ phí, các chuyên viên phân tích kỳ vọng một số ngân hàng có thể ghi nhận những khoản thu nhập bất thường từ phí trả trước của hợp đồng bán chéo bảo hiểm, lợi nhuận từ việc bán các công ty con, hay thu hồi các khoản nợ xấu đã xóa.

Với động lực từ tối ưu hóa chi phí hoạt động, các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường hiệu quả quản trị, tiết giảm chi phí hoạt động để duy trì lợi nhuận.

Trong khi đó, công ty chứng khoán Mirae Asset cho rằng, trong khi chi phí dự phòng dù khó giảm trong năm 2024, nhưng đa phần các ngân hàng đã thích nghi với "bình thường mới”, nên lợi nhuận sẽ không chịu quá nhiều áp lực.

Mặt khác, khả năng cao là Thông tư 02 sẽ được gia hạn cũng như nhiều ngân hàng tái tận dụng công cụ trái phiếu đặc biệt (VAMC) nếu nhận thấy việc trích lập dự phòng trong thời gian dài hơn khi để trong nội bảng là cần thiết.

Về phía thu nhập, tăng trưởng tín dụng ổn định và dự kiến NIM vẫn còn dư địa phục hồi là động lực tốt cho kỳ vọng tăng trưởng thu nhập, trong khi các nguồn thu nhập ngoài lãi đóng vai trò là nhân tố tiềm năng thúc đẩy lợi nhuận đối với các ngân hàng.

Phân hóa

Dự báo về triển vọng lợi nhuận ngành ngân hàng, VCBS cho rằng, mức tăng trưởng sẽ khoảng 10% toàn ngành trong năm 2024. 

Lợi nhuận đến từ nhu cầu tín dụng sẽ tăng tốc trong nửa cuối năm 2024 khi mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp giúp thúc đẩy nhu cầu cho vay và nền kinh tế phục hồi. Theo đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm dự báo ở mức 12 - 13%, giúp lợi nhuận các ngân hàng tăng trưởng trở lại.

Động lực cho tăng trưởng tín dụng là hoạt động sản xuất, xuất khẩu tích cực, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, đặc biệt là các dự án trọng điểm đầu tư cơ sở hạ tầng. Thị trường bất động sản cũng được kỳ vọng hồi phục rõ nét hơn từ nửa cuối 2024, kéo theo tăng trưởng tín dụng các phân khúc cho vay doanh nghiệp bất động sản, xây dựng, cho vay mua nhà...

Nhờ đó, biên lãi thuần (NIM) của ngân hàng sẽ đi ngang trong quý II và III/2024, sau đó chịu áp lực thu hẹp vào quý IV trong bối cảnh lãi suất huy động đang đi lên từ đáy.

Tuy nhiên, VCBS cũng đánh giá sẽ có sự phân hóa rõ rệt giữa các ngân hàng. Tiềm năng mở rộng NIM thuộc về những ngân hàng có lợi thế trong hoạt động huy động vốn (có tỷ trọng CASA cao, đa dạng hóa nguồn vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá, vay hợp vốn nước ngoài …).

Ngoài ra, các ngân hàng với chất lượng tài sản tốt, tập khách hàng có khả năng trả nợ hồi phục nhanh chóng hoặc có khả năng đẩy mạnh tỷ trọng cho vay bán lẻ được kỳ vọng có thể mở rộng NIM.

Về chất lượng tài sản, VCBS cho rằng, áp lực nợ xấu vẫn ở mức cao trong nửa đầu năm tuy nhiên nhiều khả năng sẽ hạ nhiệt dần cùng với đà phục hồi của nền kinh tế.

Theo giới phân tích, sẽ có sự phân hóa giữa các ngân hàng, trong đó, nhóm ngân hàng có chất lượng tài sản tốt sẽ ghi nhận nợ xấu và nợ tái cơ cấu kiểm soát ở mức vừa phải trong khi nhóm ngân hàng có tỷ trọng tín dụng doanh nghiệp cao (bao gồm TPDN) và có tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp có thể sẽ phải đối mặt với rủi ro nợ xấu và áp lực trích lập tăng cao trong năm 2024 – 2025.