Tái định vị kinh tế nhà nước - Bài 3: Tăng cường kỷ luật ngân sách, vốn đầu tư công
Thái Bình
Thứ bảy, 21/03/2026 - 11:09
Nghe audio
0:00
Tiến trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước chậm, kém hiệu quả không còn là câu chuyện nội bộ mà đã trở thành biến số ảnh hưởng trực tiếp tới ngân sách, đầu tư công và khả năng điều hành vĩ mô.
Cổ phần hóa, thoái vốn và cơ cấu lại doanh
nghiệp nhà nước (DNNN) trong nhiều năm qua thường được nhìn như một tiến trình cải cách gắn với
từng doanh nghiệp cụ thể. Thực tế giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy, khi tiến trình
này chậm lại, hệ quả không dừng ở phạm vi của riêng doanh nghiệp mà lan sang kỷ luật ngân
sách, kế hoạch đầu tư công cũng như khả năng điều hành vĩ mô.
Khoảng trống thiết kế thể chế trong việc phân định vai trò nhà nước cho thấy yêu cầu cấp thiết chuyển từ tư duy “giữ nhiều” sang “giữ đúng”, với trọng tâm là kỷ luật vốn và kỷ luật thị trường.
Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước không còn là câu chuyện nội bộ
Số liệu tổng hợp của cơ quan quản lý tài chính cho thấy
trong giai đoạn 2023 đến hết quý I/2024 không có doanh nghiệp nào được phê duyệt
phương án cổ phần hóa, dù kế hoạch sắp xếp lại DNNN giai đoạn 2022–2025 đã được
Thủ tướng phê duyệt. Cùng thời gian này, chỉ 9 doanh nghiệp thực hiện thoái vốn,
với số tiền thu về khoảng 160 tỷ đồng – một con số rất khiêm tốn so với quy mô
vốn nhà nước đang nắm giữ tại doanh nghiệp.
Tính chung giai đoạn 2021–2023, tổng số tiền thu thực tế từ
bán vốn nhà nước chỉ đạt khoảng 14.610 tỷ đồng. Dự kiến hai năm 2024–2025 có thể
thu thêm khoảng 47.960 tỷ đồng. Trong khi đó, theo nghị quyết của Quốc hội, kế
hoạch chi từ nguồn bán vốn nhà nước giai đoạn 2021–2025 lên tới khoảng 248
nghìn tỷ đồng.
Khoảng chênh lệch rất lớn này đặt ra đòi hỏi điều chỉnh kịch bản hoặc giảm kế hoạch đầu tư công hoặc tìm nguồn thu khác
để bù đắp. Như vậy, tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn DNNN đã không còn là vấn đề
kỹ thuật, mà đang trở thành biến số ảnh hưởng trực tiếp tới cân đối ngân sách và dư
địa đầu tư phát triển.
Doanh nghiệp nhà nước mong muốn một khung phân loại đủ rõ để tránh rơi vào tình trạng vừa phải thị trường, vừa phải đảm đương nhiệm vụ chính trị mà không có cơ chế bù đắp phù hợp. Ảnh minh hoạ: Hoàng Anh
Kết quả thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn DNNN
giai đoạn 2021–2025 cho thấy nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng chậm tiến độ.
Thứ nhất là vướng mắc về cơ chế, chính sách, đặc biệt liên
quan đến đất đai và xác định giá trị doanh nghiệp. Bên cạnh việc phê duyệt
phương án sử dụng đất theo quy định pháp luật về quản lý tài sản công kéo dài (nhất
là với các doanh nghiệp có đất tại nhiều địa phương), công tác xác định giá trị
doanh nghiệp, giá khởi điểm cổ phần hóa gặp khó do chồng chéo quy định và thiếu
tiền lệ xử lý các tình huống phức tạp.
Nguyên nhân thứ hai góp phần dẫn tới tiến độ thực hiện (giai
đoạn đầu 2021–2022 – thời gian còn chịu tác động của hậu dịch Covid-19 và cả
sau đó) vẫn không được cải thiện đáng kể, xuất phất từ tâm lý e ngại, sợ trách
nhiệm của một bộ phận cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp và cơ quan đại diện chủ sở hữu
khi quyết định cổ phần hóa, thoái vốn, nhất là trong bối cảnh thị trường chứng
khoán không thuận lợi.
Thứ ba là tình trạng tài chính yếu kém của một số doanh nghiệp,
như âm vốn chủ sở hữu, nợ bảo hiểm xã hội, tồn đọng công nợ và tài sản lịch sử
để lại. Các trường hợp như Công ty TNHH MTV thiết bị giáo dục nghề nghiệp hay
Công ty TNHH MTV xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Agrexport cho thấy, không phải
doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng cho cổ phần hóa theo cách “bán vốn để thu tiền”.
Những nguyên nhân này khiến nhiều doanh nghiệp trong danh
sách thoái vốn giai đoạn 2022 – 2023 không hoàn thành theo tiến độ. Riêng giai đoạn
này, trong khi kế hoạch đề ra phải thoái vốn tại 53 doanh nghiệp, nhưng đến hết
năm 2023 vẫn còn 36 trường hợp chưa đạt tiến độ, trong đó nhiều doanh nghiệp vướng
mắc chủ yếu ở đất đai và định giá.
Đặt những con số và vướng mắc trên trong bối cảnh rộng hơn,
có thể thấy một vấn đề cốt lõi rằng, vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế
đang ở trạng thái chuyển tiếp, nhưng hệ thống công cụ và cách thức quản lý vốn
nhà nước chưa hoàn toàn theo kịp.
Trong nhiều thập niên trước, Nhà nước vừa là cơ quan quản
lý, vừa là chủ sở hữu trực tiếp của doanh nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực hạ
tầng, năng lượng, lương thực, công nghiệp nền tảng. Khi nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường đầy đủ hơn, yêu cầu đặt ra không chỉ là “giữ hay bán” vốn
nhà nước, mà là giữ ở đâu, giữ bao nhiêu và với mục tiêu gì.
Thực tiễn rà soát cho thấy, các ngành/lĩnh vực nhà nước cần
nắm giữ vốn đang được phân loại theo các cấp độ khác nhau: có những lĩnh vực
Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ, có lĩnh vực giữ từ 65% trở lên, và có lĩnh vực
giữ trên 50% đến dưới 65%. Việc phân tầng này phản ánh cách tiếp cận dựa trên mức
độ ảnh hưởng tới an ninh, ổn định hệ thống và lợi ích công cộng.
Danh mục các lĩnh vực nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn bao gồm
những hoạt động gắn trực tiếp với quốc phòng, an ninh, độc quyền tự nhiên hoặc
dịch vụ công thiết yếu: đo đạc bản đồ phục vụ quốc phòng – an ninh; sản xuất,
kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp; đầu tư và vận hành nhà máy điện hạt nhân,
thủy điện chiến lược đa mục tiêu; truyền tải điện; quản lý hạ tầng đường sắt; dịch
vụ không lưu; bảo đảm hàng hải; bưu chính công ích; in, đúc tiền; quản lý công
trình thủy lợi; tín dụng chính sách; bảo hiểm tiền gửi; tổ chức thị trường giao
dịch chứng khoán; kinh doanh xổ số; bán buôn lương thực có vai trò đảm bảo các
cân đối lớn của nền kinh tế…
Ở nhóm nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên là các
lĩnh vực hạ tầng lớn, khai thác tài nguyên quy mô lớn, quản lý các cảng hàng
không, sân bay, bến cảng đặc biệt quan trọng. Nhóm còn lại, nhà nước giữ trên
50% đến dưới 65%, gồm vận tải hàng không, đầu mối nhập khẩu xăng dầu chiếm thị
phần lớn, cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, hoặc doanh nghiệp đảm bảo
nhu cầu thiết yếu ở vùng sâu, vùng xa.
Cách phân loại này cho thấy một điểm đáng chú ý: không phải
mọi doanh nghiệp nhà nước đều được mặc định “chủ đạo” theo nghĩa sở hữu tuyệt đối,
mà vai trò chủ đạo được đặt trong mối quan hệ với chức năng hệ thống và mục
tiêu chính sách.
Những “điểm nghẽn” điển hình
Quá trình lấy ý kiến từ các tập đoàn, tổng công ty nhà nước
lớn phản ánh khá rõ những căng thẳng trong giai đoạn chuyển tiếp này.
Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) kiến nghị tiếp
tục duy trì tỷ lệ sở hữu nhà nước 100% hoặc tối thiểu 65% đối với hoạt động bán
buôn lương thực, với lập luận gắn với an ninh lương thực quốc gia, nhiệm vụ xuất
khẩu gạo theo các cam kết chính phủ (G2G) và vai trò bình ổn thị trường. Theo
doanh nghiệp này, nếu cổ phần hóa sâu, việc thực hiện các nhiệm vụ phi lợi nhuận
sẽ gặp khó do xung đột với mục tiêu lợi nhuận của cổ đông tư nhân.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nêu rõ những khó khăn trong
việc cổ phần hóa các tổng công ty phát điện giai đoạn vừa qua, đặc biệt là
EVNGENCO1 và EVNGENCO2, do vướng mắc về định giá tài sản, đất đai và điều kiện
thị trường. EVN kiến nghị trong giai đoạn tới tiếp tục duy trì nhà nước nắm giữ
100% vốn hoặc tỷ lệ chi phối cao tại các đơn vị này, nhằm đảm bảo an ninh năng
lượng và ổn định hệ thống điện.
Nhóm đại diện vốn nhà nước tại Tổng công ty Lâm nghiệp Việt
Nam (Vinafor) đề xuất xếp doanh nghiệp vào nhóm nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối,
với lý do quản lý khoảng 48.000ha rừng tại các địa bàn trọng yếu về quốc phòng
– an ninh và thực hiện nhiệm vụ môi trường, xã hội.
Trong khi đó, Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn (CNS) kiến
nghị bổ sung các ngành như cơ khí chế tạo, khuôn mẫu chính xác, công nghiệp hỗ
trợ công nghệ cao vào danh mục Nhà nước nắm giữ tỷ lệ vốn cao. Nguyên nhân của
những kiến nghị này đến từ đặc thù vốn lớn, thu hồi chậm và khu vực tư nhân ít
tham gia.
Các kiến nghị nêu trên cho thấy doanh nghiệp nhà nước không
phản đối cải cách, nhưng mong muốn một khung phân loại đủ rõ để tránh rơi vào
tình trạng “vừa phải thị trường, vừa phải nhiệm vụ chính trị” mà không có cơ chế
bù đắp phù hợp.
Thực tế triển khai giai đoạn 2021–2025 cho thấy, cách tiếp cận
cổ phần hóa và thoái vốn thuần túy nhằm mục tiêu tăng thu ngân sách đã bộc lộ
giới hạn. Khi thị trường không thuận lợi, doanh nghiệp chưa sẵn sàng và khung
pháp lý còn vướng mắc, việc thúc đẩy bán vốn bằng mệnh lệnh hành chính không chỉ
khó đạt mục tiêu thu, mà còn tiềm ẩn rủi ro thất thoát.
Việc nhiều doanh nghiệp phải kiến nghị lùi, tạm dừng hoặc
chuyển giao về SCIC – như trường hợp Viglacera, Coma, Lilama, hay một số doanh
nghiệp hạ tầng địa phương – phản ánh nhu cầu tái thiết kế lộ trình cơ cấu lại vốn
nhà nước, thay vì chạy theo chỉ tiêu số lượng.
Ở góc độ này, vai trò “kiến tạo” của nhà nước không nằm ở việc
đẩy nhanh hay kìm lại cổ phần hóa một cách cơ học, mà là xác lập luật chơi rõ
ràng, phân định rạch ròi giữa nhiệm vụ công ích và hoạt động kinh doanh, đồng
thời tạo điều kiện để thị trường tham gia khi và chỉ khi điều kiện chín muồi.
Nhìn từ những dữ liệu và trường hợp cụ thể, có thể thấy một
khoảng trống đáng chú ý, nhà nước đang chuyển vai từ chủ sở hữu trực tiếp sang
người kiến tạo thể chế, nhưng bộ công cụ để thực hiện vai trò mới này vẫn đang
hoàn thiện.
Khoảng trống đó thể hiện ở việc tiến độ cơ cấu lại DNNN chậm
làm ảnh hưởng tới đầu tư công; ở những doanh nghiệp vừa phải thực hiện nhiệm vụ
chính trị, vừa bị yêu cầu vận hành theo chuẩn mực thị trường; và ở sự lúng túng
trong phân loại lĩnh vực Nhà nước cần giữ chi phối dài hạn.
Trong bối cảnh đó, việc làm rõ hơn vai trò của kinh tế nhà nước, bằng kỷ luật vốn, kỷ luật ngân sách và kỷ luật thị trường thay vì khẩu hiệu,
sẽ trở thành yêu cầu cấp thiết cho giai đoạn 2026–2030.
Có thể thấy, vấn đề cốt lõi của khu vực doanh nghiệp nhà nước
hiện nay không chỉ là tốc độ cổ phần hóa hay quy mô vốn nhà nước nắm giữ, mà nằm
ở cách thức phân định mục tiêu và kỷ luật sử dụng nguồn lực.
Khi khung thể chế
đang trong quá trình hoàn thiện, không phải mọi chuyển động đều chờ đợi từ
chính sách. Thực tế đã xuất hiện những doanh nghiệp nhà nước chủ động tái cấu
trúc, đổi mới quản trị, tách bạch nhiệm vụ công ích với hoạt động kinh doanh và tìm kiếm dư địa phát triển trong khuôn khổ thị trường.
Những trường hợp này cho thấy, “vai trò chủ đạo” không chỉ
được xác lập bằng sở hữu vốn, mà còn bằng năng lực tự chuyển mình của chính các doanh nghiệp.
Tòa soạn trân trọng giới thiệu bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 79, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, sáng 25/2/2026.
Quảng Ninh đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên thể chế, hạ tầng và năng lực tổ chức phát triển nhằm tiến tới vị thế thành phố trực thuộc trung ương.
Công ty CP Năng lượng XCE đăng ký nghiên cứu, phát triển bảy dự án điện mặt trời nổi, tổng công suất thiết kế 1.125MW, trên các hồ thủy lợi tại Lâm Đồng.
Quảng Ninh đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên thể chế, hạ tầng và năng lực tổ chức phát triển nhằm tiến tới vị thế thành phố trực thuộc trung ương.
One Capital Hospitality dự kiến sẽ dùng toàn bộ 2.500 tỷ đồng để thực hiện các thương vụ M&A lớn trong năm 2026, trong đó, đáng chú ý là kế hoạch chi hơn 1.421 tỷ đồng để mua 22,85 triệu cổ phiếu, qua đó sở hữu hơn 20% cổ phần tại Công ty CP IDS Equity Holding.
Nhiều lần biến động cổ đông lớn chỉ trong 4 tháng và dự án đất vàng 277 Nguyễn Trãi trở thành vấn đề nóng của Giầy Thượng Đình tại đại hội cổ đông sắp tới.