Dragon Capital: Chuyển hóa tài sản số thành dòng vốn dài hạn
Việc thí điểm tài sản số, tài sản mã hóa vào hệ thống tài chính chính thức được Dragon Capital đánh giá cao, khi mở ra nhiều cơ hội mới cho nền kinh tế.
Việt Nam đang đứng trước một kỷ nguyên mới, với những bước chuyển mình lịch sử hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Trong bối cảnh đó, tài sản số, tài sản mã hóa không còn là một khái niệm xa vời mà đã được định hướng trở thành một trong 11 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia và là một phần cốt lõi trong mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Gần đây, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP của Chính phủ về việc thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam được xem là động lực quan trọng của nền kinh tế đất nước.
Để nắm bắt vận hội quan trọng này, các doanh nghiệp, nhà đầu tư và các định chế tài chính cần một tư duy mới, một cách tiếp cận đột phá để đón đầu cơ hội trước khi thị trường thực sự bùng nổ.
Nhằm mang đến một bức tranh toàn cảnh, đa chiều về những cơ hội, tiềm năng và thách thức, Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam (VACD), Tạp chí điện tử Nhà Quản Trị - TheLEADER.vn tổ chức Diễn đàn quản trị doanh nghiệp Việt Nam 2025 (VCG Forum 2025) với chủ đề "Khai phá tiềm năng tài sản số" vào ngày 10/12/2025 tại Hà Nội.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn quản trị doanh nghiệp Việt Nam 2025 (VCG Forum 2025) với chủ đề “Khai phá tiềm năng tài sản số”, ông Nguyễn Đức Thuận, Chủ tịch Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam (VACD) cho biết, sự kiện được tổ chức trong một thời điểm mang tính bản lề của nền kinh tế.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
“Để hiện thực hóa khát vọng đó, Việt Nam cần những động lực tăng trưởng mới, những thị trường mới và một trong số đó là tài sản số, tài sản mã hóa”, ông Thuận nói.
Theo ông Thuận, tài sản số giờ đây không còn là câu chuyện của những cơn “sốt ảo” mà đang được định hình trở thành một phần cốt lõi của nền kinh tế số toàn cầu.
Tại Việt Nam, tài sản số đang có những bước tiến ngoạn mục với những tín hiệu tích cực từ hành lang pháp lý, chính sách, điển hình như Nghị quyết 05 của Chính phủ về thí điểm thị trường tài sản mã hóa, hay những chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư về việc Việt Nam “không thể đứng ngoài xu thế thời đại”.
Chỉ ít ngày nữa, kể từ ngày 1/1/2026, tài sản số sẽ chính thức bước ra khỏi “vùng xám” để trở thành một kênh dẫn vốn chính thống và hiệu quả cho nền kinh tế.
“Trước thời khắc lịch sử này, chúng ta sẽ không chỉ bàn luận về việc quản trị tài sản số như thế nào mà quan trọng hơn là làm sao để khai phá tối đa giá trị mà nó mang lại cho doanh nghiệp và cho quốc gia”, Chủ tịch VACD phát biểu.

Cơ hội mà tài sản số mở ra là rất lớn, nhưng thực tế doanh nghiệp đang phản ứng ra sao? Dẫn khảo sát của Hội Các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam (VACD) và Tạp chí điện tử Nhà quản trị (TheLEADER), ông Thuận chỉ ra một bức tranh thị trường đầy thú vị với những gam màu tương phản.
Theo đó, tư duy của doanh nghiệp về tài sản số đã trưởng thành vượt bậc. Không còn mơ hồ, cộng đồng kinh doanh đã xác định rất rõ đích đến của công nghệ này.
Dẫn đầu khảo sát, hơn một nửa doanh nghiệp tin rằng “Tài chính - Kế toán” sẽ là lĩnh vực được ứng dụng hiệu quả nhất, theo sát là lĩnh vực “Quản lý tài sản và quyền sở hữu”.
Điều này cho thấy: Doanh nghiệp Việt Nam không nhìn tài sản số như một sản phẩm đầu cơ, mà xem đó là công cụ để minh bạch hóa dòng tiền và số hóa quyền sở hữu tài sản thực.
Khi được hỏi về kế hoạch triển khai, bên cạnh nhóm tiên phong, một bộ phận không nhỏ vẫn đang chờ khung pháp lý hoàn thiện. Song song là nỗi lo về nhân lực hay an ninh mạng.
“Điều này gửi đi một thông điệp mạnh mẽ: Doanh nghiệp không sợ công nghệ, không sợ cạnh tranh, họ cần một sân chơi minh bạch”, ông Thuận nhấn mạnh.

Theo ông Thuận, VCG Forum 2025 sẽ là cầu nối để các nhà hoạch định chính sách, các quỹ đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp cùng ngồi lại, không chỉ để bàn luận, mà để định hình một hệ sinh thái tài sản số Việt Nam “minh bạch, an toàn và thịnh vượng”.
“Chúng ta kỳ vọng, sau diễn đàn này, tài sản số sẽ thực sự được “khai phá” để trở thành dòng vốn chảy vào sản xuất kinh doanh, tạo ra giá trị thực cho xã hội”, Chủ tịch VACD nói.
Trong 20 năm công tác trong ngành tài chính, ông Nguyễn Phú Dũng, đồng sáng lập Tập đoàn PILA và thành viên Hội đồng đầu tư quỹ Solaris Impact thuộc Pacific Bridge Capital tin rằng con đường đưa Việt Nam phát triển bền vững và thịnh vượng đó là Internet.
“Chỉ có Internet mới tạo ra giá trị kết nối to lớn như vậy”, ông Dũng nhấn mạnh. Theo ông Dũng, hòa chung xu thế toàn cầu, Việt Nam cũng đang chứng kiến quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, theo ông Dũng, từ “Việt Nam vật lý” sang “Việt Nam số”. Trong đó, “Việt Nam số” được định hình bởi biên giới số và ngôn ngữ chính là dữ liệu.
Ông Dũng chỉ ra một nghịch lý trong nền tảng tài chính hiện tại, khi tốc độ quay vòng vốn của Việt Nam chỉ bằng 1/3 so với Singapore. Tức là, cùng một đồng vốn, Singapore quay được ba vòng trong khi Việt Nam chỉ quay được một vòng.
Nguyên nhân chính nằm ở việc vốn đang bị đọng nhiều trong tài sản đảm bảo, chủ yếu là bất động sản. Cùng với đó, sự thiếu hụt các chính sách, cơ chế và rào cản pháp lý khiến việc tiếp cận vốn cho các dự án đổi mới sáng tạo trở nên khó khăn.
Những thách thức này sẽ được hóa giải thông qua một mô hình tổng thể của quốc gia số với ba lớp chính, lần lượt từ dưới lên bao gồm dữ liệu, tài chính và kinh tế.
Trong mô hình này, dữ liệu thô sẽ chảy từ dưới lên trên qua các hoạt động phân tích, làm sạch để tạo ra giá trị, trong khi dòng tiền từ lớp tài chính sẽ đầu tư lên lớp kinh tế và được hoàn lại cả gốc lẫn lãi.

Với mô hình này, “nút thắt” dòng vốn là sự thiếu hụt niềm tin sẽ được tháo gỡ thông qua niềm tin trong thời đại số.
Niềm tin số, theo ông Dũng, không phải dựa trên mối quan hệ giữa người với người mà dựa trên những bằng chứng nhỏ nhất, đến từ dữ liệu.
Lợi ích là việc tiếp cận vốn có thể trở nên dễ dàng hơn, các tổ chức tín dụng có thể sẵn sàng cho vay thông qua đánh giá khách hàng trên dữ liệu tin cậy, chính xác và minh bạch.
Từ đó, tài sản đảm bảo không còn cần thiết và dòng vốn được lưu thông mạnh mẽ hơn, không bị đọng quá nhiều vào những tài sản vật lý.
“Niềm tin số phải được xây dựng trên dữ liệu minh bạch, có thể kiểm chứng độc lập và đáng tin cậy”, ông đánh giá. Về yếu tố định danh trên môi trường số, ông Dũng khẳng định đây là bằng chứng số bất biến quan trọng nhất.
Thông qua ứng dụng công nghệ blockchain, việc định danh sẽ đảm bảo tính toàn vẹn, tự động hóa và minh bạch của dữ liệu. Đây là xuất phát điểm của tài sản số.
Ông Dũng cho biết, tài sản số được chia thành hai nhóm, bao gồm tài sản số thuần túy (Digital-native Assets) và tài sản số được mã hóa (Tokenized Real-world Assets – RWA).
Trong hai loại tài sản số này, thế mạnh của Việt Nam nằm ở RWA, thông qua việc mã hóa, “hóa lỏng” tài sản thực là những thứ Việt Nam sở hữu độc nhất, chẳng hạn như Vịnh Hạ Long, Đảo Phú Quốc hay những món ăn truyền thống dân tộc.
“Nếu Việt Nam không tận dụng thế mạnh này thì rất khó để đuổi kịp thế giới”, ông Dũng nhấn mạnh.
Bối cảnh pháp lý đang ủng hộ Việt Nam theo đuổi lợi thế này, khi Đảng và Chính phủ thúc đẩy mạnh mẽ hành lang pháp lý và xây dựng nền tảng kiến trúc dữ liệu quốc gia.
Trong đó, công nghệ blockchain được xem là một trong những công nghệ chiến lược quốc gia và hệ thống blockchain quốc gia là hạ tầng cần thiết để làm chủ và triển khai tài sản số. Nền tảng blockchain quốc gia sẽ tạo ra lớp dữ liệu tin cậy, từ đó sinh ra các lớp tài chính số và kinh tế số.
Ông Dũng nhận định, cơ hội tại Việt Nam là rất lớn, bao gồm bất động sản, năng lượng điện gió, logistics, tài sản vô hình như quyền khai thác du lịch hay sở hữu trí tuệ nội dung số. Tất cả những đặc trưng này hoàn toàn có thể chuyển đổi thành tài sản số để kêu gọi vốn đầu tư.
Cuối cùng, ông Dũng kết luận rằng tài sản số không chỉ là câu chuyện của công nghệ mã hóa mà là câu chuyện của niềm tin số. Niềm tin số xuất phát từ dữ liệu, dữ liệu xuất phát từ định danh, và định danh dựa trên một nền tảng tin cậy. Khi dữ liệu minh bạch, niềm tin sẽ tự hình thành và dòng vốn sẽ tự tìm đến, tạo ra sự thịnh vượng bền vững cho Việt Nam.
Thành phần tham dự:
- Ông Nguyễn Phú Dũng, Tổng giám đốc Tập đoàn PILA, thành viên Hội đồng đầu tư quỹ Solaris Impact thuộc Pacific Bridge Capital
- TS. Trần Anh Tuấn, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hà Nội
- Ông Lê Thanh, nhà đồng sáng lập Ninety Eight
- TS. Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế Số Việt Nam

Nhà báo Việt Hưng: Như ông đã chia sẻ trong bài tham luận, thì định danh và xây dựng niềm tin là mấu chốt của tài sản số. Vậy trong thực tiễn chúng ta sẽ định danh và xây dựng niềm tin với tài sản số như thế nào? Lấy ví dụ về một bất động sản thì việc định danh và xây dựng niềm tin ra sao?
Ông Nguyễn Phú Dũng: Trong khán phòng này, tôi tin chắc ai cũng có một chiếc điện thoại, thậm chí có người sở hữu hai chiếc hoặc thêm máy tính bảng. Đó chính là yếu tố đầu tiên để xác thực và định danh một con người trên không gian mạng, dựa trên nguyên tắc "bạn có cái gì" (Something you have), và yếu tố đó là duy nhất.
Ngoài thiết bị, trong túi chúng ta còn có căn cước công dân gắn chip, đây cũng là một yếu tố định danh sở hữu. Theo quy chuẩn eIDAS 2 của Châu Âu, để xác minh danh tính cần ít nhất hai trong ba yếu tố: bạn có cái gì, bạn biết cái gì (điều chỉ mình bạn biết), và bạn là ai (dựa trên yếu tố sinh trắc học).
Giả sử chúng ta hoạt động trên môi trường Metaverse, nơi mọi người không nhìn thấy mặt nhau trực tiếp, muốn xác định chính xác danh tính của một người thì phải thông qua quá trình đăng nhập. Lịch sử Internet đã trải qua 20 năm phát triển từ tên đăng nhập, mật khẩu cho đến các hệ thống liên kết phức tạp.
Hiện nay, thế giới và các tập đoàn lớn như Microsoft đang chuyển sang hệ thống định danh tự chủ (Self-Sovereign Identity).
Nghĩa là dữ liệu định danh được gắn trực tiếp trên thiết bị của người dùng chứ không nằm trên máy chủ doanh nghiệp hay cơ quan quản lý. Dữ liệu này được mã hóa và bảo vệ bởi các yếu tố sở hữu thiết bị và sinh trắc học của chính người đó.
Đối với việc định danh vật thể, ví dụ như xác định chiếc máy tính hay máy tính bảng này có phải của tôi hay không, chúng ta cần nhìn vào câu chuyện định danh thực thể gắn liền với chuỗi cung ứng.

Chúng ta cần biết vật thể đó được sản xuất từ đâu, buôn bán thế nào, nhập khẩu vào Việt Nam ra sao, luân chuyển qua các nhà bán lẻ và đến tay người mua cuối cùng.
Luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa mới (dự kiến có hiệu lực từ 1/1/2026) quy định các loại hàng hóa có mức độ rủi ro cao, ví dụ như thuốc men, bắt buộc phải được định danh và truy xuất nguồn gốc. Khi đó, sản phẩm sẽ được gắn chip để xác định tính duy nhất, tạo ra một bản sao số (Digital Twin).
Quyền sở hữu vật phẩm thực tế sẽ được ánh xạ lên môi trường số, giúp xác định rõ ràng ai là chủ sở hữu và tài sản đó đã luân chuyển qua những đâu. Đó là cách chúng ta xây dựng niềm tin và xác thực trong thị trường tài sản số.
Bất kì tài sản nào cũng cần một hệ sinh thái. Vậy cấu trúc hệ sinh thái tài sản số trong khuôn khổ Nghị quyết 05 sẽ ra sao? Cần những thành phần nào bên cạnh sàn giao dịch mã hóa chuẩn bị được thí điểm?
Ông Nguyễn Phú Dũng: Theo góc nhìn của tôi, tài sản số hay tài sản mã hóa là biểu hiện cho kỳ vọng và niềm tin của nhà đầu tư vào một bằng chứng số, tin rằng giá trị đó sẽ được đảm bảo hoặc tăng trưởng trong tương lai. Khi tổ chức một thị trường nguồn vốn, dù là vốn chủ hay vốn vay, thông thường sẽ bao gồm các cấu phần cơ bản sau để vận hành trơn tru.
Thứ nhất là đơn vị phát hành. Theo tinh thần của pháp luật hiện hành và Nghị quyết 05, bất kỳ công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn nào cũng có thể trở thành đơn vị phát hành tài sản mã hóa tại Việt Nam.
Thứ hai là đơn vị tư vấn phát hành. Vì đơn vị phát hành đơn lẻ khó có thể hiểu hết toàn bộ thị trường, họ cần các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp, thông thường vai trò này sẽ do các công ty chứng khoán đảm nhiệm.
Thứ ba, và là một thành phần cực kỳ quan trọng, đó là đơn vị lưu ký. Tài sản thực cần được lưu giữ an toàn để đảm bảo giá trị cho tài sản số. Vì tài sản số là ánh xạ của tài sản thực, nếu tài sản thực trong kho không được quản lý tốt, bị mất mát hay hư hỏng thì tài sản số sẽ trở nên vô giá trị.
Do đó, cần có đơn vị lưu ký, thường là ngân hàng hoặc các đơn vị được cấp phép, để bảo quản tài sản thực và đảm bảo tính thanh khoản.
Thứ tư là thị trường sơ cấp, nơi diễn ra các giao dịch mua bán ban đầu giữa đơn vị phát hành và những người mua đầu tiên, đây là lúc dòng tiền thực sự đi vào nền kinh tế phục vụ sản xuất kinh doanh.
Thứ năm là thị trường thứ cấp, chính là các sàn giao dịch mà chúng ta hay nhắc đến. Đây là nơi tạo ra tính thanh khoản, cho phép giao dịch mua đi bán lại để gia tăng giá trị.
Cuối cùng là sự tham gia của các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư. Họ sẽ đại diện cho dòng vốn, lựa chọn các danh mục tài sản mã hóa phù hợp để tạo ra giá trị tăng trưởng ổn định và an toàn. Như vậy, một thị trường hoàn chỉnh cần sự tham gia đồng bộ của tất cả các đơn vị từ phát hành, tư vấn, lưu ký đến giao dịch và đầu tư.
Với một đơn vị có kinh nghiệm thực tiễn như Ninety Eight, hệ sinh thái tài sản số, tài sản mã hóa sẽ bao gồm những thành phần nào, nếu chỉ khoanh vùng phạm vi là Nghị quyết 05?
Ông Lê Thanh, nhà đồng sáng lập Ninety Eight: Ninety Eight là một trong những công ty phát triển công nghệ Blockchain được thành lập từ năm 2017, chủ yếu hoạt động trên thị trường quốc tế.
Blockchain, về bản chất, là một công nghệ với nhiều ứng dụng, trong đó có mảng tài chính. Khi nhìn vào Blockchain, và đặt trong lát cắt liên quan đến Nghị quyết 05, chúng ta có thể chia thành ba thành phần chính.
Thứ nhất, đó là các nền tảng, sản phẩm và dịch vụ đóng vai trò hạ tầng công nghệ. Nếu những lớp nền tảng này không được triển khai, gần như các yếu tố còn lại sẽ không thể xuất hiện.
Trong bài của anh Dũng cũng đã đề cập đến tầm quan trọng của các hệ thống nền tảng, bao gồm Layer 1, Layer 2 (L1, L2 chain).
Bên cạnh các chain nền tảng còn có nhfững dịch vụ hạ tầng tương ứng, chẳng hạn như dịch vụ lưu ký và nhiều dịch vụ hỗ trợ khác. Nếu không có những hạ tầng này, công nghệ Blockchain gần như không thể vận hành.

Thứ hai là tài sản số. Khi nhắc đến tài sản số, chúng ta quan tâm đến các dịch vụ như phát hành, quản lý và những hoạt động liên quan.
Thứ ba là các ứng dụng và dịch vụ vận hành, quản lý các tài sản số đó. Trong nhóm này, sàn giao dịch là ví dụ dễ nhận thấy nhất và thường được nhắc đến đầu tiên.
Tuy nhiên, Blockchain có rất nhiều ứng dụng và ngay trong lĩnh vực tài sản số cũng tồn tại những thị trường và nhóm người dùng khác nhau, với nhu cầu khác nhau. Vì vậy, sàn giao dịch không phải ứng dụng duy nhất, cũng chưa thể khẳng định nó là cơ hội kinh doanh lớn nhất.
Theo tôi, cần nhìn Blockchain một cách rộng hơn. Đây là một bức tranh hệ sinh thái lớn, gồm các sàn giao dịch, các lớp hạ tầng, những cấu phần tài sản số và các ứng dụng phát triển dựa trên nền tảng đó.
Câu hỏi dành cho TS. Trần Quý - Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế Số Việt Nam. Với kinh nghiệm tư vấn và triển khai thực tiễn tại nhiều dự án blockchain và tài sản số, ông có nhìn nhận gì về việc hệ sinh thái tài sản mã hóa tại Việt Nam? Hệ sinh thái này theo ông sẽ còn có những thành phần nào, vai trò của các thành phần này?
TS. Trần Quý: Tôi nhìn vấn đề hệ sinh thái tài sản mã hóa tại Việt Nam từ một góc nhìn đơn giản hơn.
Ở Việt Nam ta có câu “Nhất da nhì tướng”, ý nói con người thường tin vào thế giới hữu hình: gặp nhau phải thấy mặt, giao dịch phải nhìn tận tay, chuyển tiền phải trao – nhận rõ ràng. Nói cách khác, chúng ta quen với những gì mắt thấy, tay chạm được.
Nhưng giờ đây, chúng ta bước vào một khái niệm, một môi trường hoàn toàn mới: môi trường số, kinh tế số, hay online, được mô tả bằng một từ nghe có vẻ xa lạ: On-chain.
Nền kinh tế On-chain là nơi mọi giao dịch, thanh toán và hoạt động được thực hiện trong một môi trường vô hình – không thể sờ chạm. Giống như Internet của giá trị, trước đây chúng ta lưu trữ dữ liệu bằng bit/byte; còn trong thế giới mới, dữ liệu được lưu trữ bằng các block, kết nối với nhau tạo thành chain.
Thay vì các dữ liệu tồn tại độc lập, mọi hành động hay sự kiện đều được móc nối trong chuỗi. Các giao dịch được xâu chuỗi với nhau. Đó chính là cơ chế của nền kinh tế On-chain.

Từ hệ thống này thu nhỏ lại, chúng ta nói đến Blockchain hay tài sản số. Trọng tâm ở đây không phải là chữ “số”, mà là chữ “tài sản”. Khi đã là tài sản thì nó phải mang đầy đủ tính chất của tài sản theo định nghĩa pháp lý. Sau đó, phần “số” chỉ là môi trường mà tài sản ấy được ánh xạ vào, được lưu trữ và vận hành.
Tài sản số, về bản chất, là tài sản thật nhưng có một bản sao trong môi trường số. Việc phải định danh và quản lý nó trở nên quan trọng bởi trong môi trường truyền thống, ta nhìn thấy nhau để xác thực. Còn trong môi trường On-chain, mọi thứ “chạy tứ phía”, không trực quan, buộc phải có cơ chế pháp lý và tư duy mới để quản lý.
Hệ sinh thái tài sản số hiện nay, nói ngắn gọn, bao gồm hai chủ thể chính: Thứ nhất, tài sản số – VA (Virtual Asset). Thứ hai, nhà cung cấp dịch vụ tài sản số – VASP (Virtual Asset Service Provider). Xung quanh hai chủ thể này là rất nhiều đơn vị cung cấp dịch vụ khác.
Quay lại câu hỏi về Nghị quyết 05 cho phép 5 đơn vị thử nghiệm: nhiều người cho rằng, con số đó quá ít.
Nhưng theo tôi, so với thị trường chứng khoán – chỉ có hai sàn Hà Nội và TP.HCM thì năm “sàn mã hóa” là đã rất nhiều. Vấn đề không phải ít hay nhiều mà là quản lý thế nào.
VA có thể tạo ra vô số, nhưng để trở thành tài sản số đúng nghĩa và hợp pháp, nó phải đáp ứng hai điều kiện: Một là có quyền tài sản, được công nhận. Hai là nằm trong hệ sinh thái đầy đủ, gồm thẩm định, lưu ký… giống như bất động sản muốn có giá trị phải có đơn vị định giá. Nếu ai đó chỉ cần nhấn Enter là sinh ra tài sản, hôm nay nói 1 đô, mai bảo 1,5 đô thì rõ ràng không thể được xem là tài sản hợp pháp – dù nó có giá trên thị trường tự do.
Như vậy, chúng ta có hai phần: Phần chìm – hệ quả của thời kỳ tài sản số được tạo ra “bằng phím Enter”, hoạt động tự do, không luật lệ. Theo khảo sát báo chí, người Việt tham gia vào phần này khoảng 20%. Và phần nổi – bao gồm khung pháp lý, quy định và hệ thống quản lý.
Nghị quyết 05 thực chất nhằm tạo cầu nối giữa phần chìm và phần nổi, thông qua hai yếu tố: Một là niềm tin, bằng cách đưa pháp luật và cơ chế giám sát vào. Hai là sự đồng bộ về công nghệ, để việc quản trị tài sản số diễn ra minh bạch, an toàn.
Ngoài Nghị quyết 05, chúng ta vẫn còn những không gian khác cũng không kém phần hấp dẫn là Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) đặt tại TP.HCM và Đà Nẵng.
Thưa ông Quý, ông có thể cho biết, hiện tiến độ xây dựng khung pháp lý cho IFC tại TP.HCM đã đến đâu? Chúng ta có những cơ chế, ưu đãi hay chính sách gì đặc biệt dành cho các doanh nghiệp tài sản số, tài sản mã hóa?
TS. Trần Quý: Thời gian gần đây, hai cụm từ “Trung tâm Tài chính Quốc tế” và “tài sản số” xuất hiện với tần suất dày đặc, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ. Sự quan tâm này gắn liền với một xu hướng mới mà tôi đã nhiều lần nhắc tới: On-chain.
Nếu nhìn vào các bảng xếp hạng quốc tế, TP.HCM là một đô thị lớn nhưng về năng lực tài chính, thành phố hiện đứng quanh vị trí thứ 98. Gần chúng ta là những trung tâm đã rất phát triển như Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, Dubai hay Nhật Bản.
Tuy nhiên, Việt Nam lại có một lợi thế đáng kể: lợi thế của người đi sau. Dù chậm hơn, nhưng chúng ta xuất phát đúng vào thời điểm một xu thế mới hình thành – xu thế On-chain – và điều này mở ra cơ hội đón đầu.
Chính vì vậy, mô hình Trung tâm Tài chính Quốc tế của Việt Nam không thể tách rời hệ sinh thái tài sản số – chủ đề trọng tâm của tọa đàm hôm nay. Về khung pháp lý, bước đầu đã hoàn thiện; TP.HCM cũng đã khởi động những chương trình liên quan. Gần đây, Đề án số 3 tổ chức một hội thảo nhằm xây dựng các đề án kinh tế phục vụ cho Trung tâm Tài chính.
Cốt lõi đầu tiên của mô hình này là Sandbox – cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Sandbox cho phép triển khai những tư duy và mô hình quản trị mà khung pháp lý bên ngoài chưa thể áp dụng.
Ví dụ, trong lĩnh vực trọng tài, khách hàng tại Trung tâm Tài chính Quốc tế có thể lựa chọn trọng tài từ bất kỳ quốc gia nào, thậm chí sử dụng luật của nước khác để giải quyết tranh chấp, thay vì bị giới hạn trong khung trọng tài Việt Nam.

Điểm đặc biệt thứ hai: cơ chế thanh toán đa dạng. Trong khuôn khổ Trung tâm Tài chính Quốc tế, doanh nghiệp có thể thanh toán bằng nhiều loại ngoại tệ – điều mà ở bên ngoài không cho phép.
Thứ ba, mô hình này cho phép sử dụng một số đơn vị tài sản mã hóa (active mã hóa) vào thanh toán. Đây là bước mở quan trọng để tích hợp các sản phẩm tài chính số hóa vào hoạt động thực tế.
Hiện TP.HCM và Đà Nẵng đang tích cực hoàn thiện khung vận hành cho các Trung tâm Tài chính Quốc tế, để đưa những cơ chế đặc thù này vào thực tế.
Ninety Eight có quan tâm đến định hướng phát triển trung tâm tài chính quốc tế hay không? Ông có dự định hiện diện tại không gian này trong thời gian tới không? Ở góc nhìn của ông, nếu doanh nghiệp tham gia vào trung tâm tài chính quốc tế thì họ có thể giải quyết được những vấn đề hay khó khăn nào?
Ông Lê Thanh: Là một trong những công ty công nghệ phát triển từ Việt Nam, chúng tôi cho rằng trung tâm tài chính quốc tế là một cơ hội rất lớn. Chúng tôi vừa quan tâm, vừa mong muốn được tham gia. Không chỉ là cơ hội để phát triển và hợp tác, mà còn là dịp để học hỏi, không chỉ từ các công ty trong nước mà còn từ các doanh nghiệp quốc tế.
IFC là một trung tâm tài chính quốc tế, nơi không chỉ các công ty Việt Nam mà cả các doanh nghiệp từ khắp nơi trên thế giới tụ hội. Trước đây, hoạt động của chúng tôi chủ yếu diễn ra trên không gian internet, vì vậy đây là lần đầu tiên chúng tôi có cơ hội học hỏi trực tiếp từ những đối tác và đồng nghiệp trong một môi trường vật lý. Với chúng tôi, đây là một trải nghiệm rất thú vị. Chính vì vậy, IFC vừa là cơ hội đáng quan tâm, vừa là hy vọng để chúng tôi được làm việc và hợp tác trong không gian này.
Ngoài những cơ hội hợp tác và học hỏi từ các đối tác quốc tế, chúng tôi cho rằng IFC còn là không gian để thử nghiệm những ý tưởng mới mà trước đây chúng tôi chưa có cơ hội thực hiện. Ví dụ, như anh Quý vừa chia sẻ, tại trung tâm này chúng tôi có thể thực hiện các giao dịch bằng nhiều loại tiền khác nhau hoặc thử nghiệm trong một quy mô sandbox nhỏ.
Như vậy, những ý tưởng đổi mới sáng tạo mà trước đây chúng tôi chưa biết có thể thực hiện được hay không, nay đã có một khung nhỏ để thử nghiệm. Tại đây, chúng tôi có thể đánh giá xem những sáng kiến về công nghệ nào khả thi và có cơ hội thực hiện chúng.
Tôi tin rằng khi có một không gian thử nghiệm như vậy, chúng tôi không chỉ hiểu rõ hơn về thị trường mà còn nắm được khả năng của công nghệ, biết được điều gì có thể làm được và điều gì không. Từ đó, tôi kỳ vọng sẽ ra đời nhiều sản phẩm công nghệ mới, vừa mang tính cách tân vừa đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Ông Thanh vừa đề cập đến việc IFC hấp dẫn bởi cho phép làm những thứ chưa từng được làm. Tuy nhiên, có một thực tế là dù Hà Nội chưa có Trung tâm tài chính quốc tế chính thức, nhưng thành phố vẫn đang giữ vai trò đầu tàu.
Trong lĩnh vực tài sản số và tài sản mã hóa, hôm nay chúng ta có sự hiện diện của ông Tuấn – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) TP. Hà Nội. Tôi tin rằng ông Tuấn sẽ có những chia sẻ để mọi người thấy rằng, không cần phải đợi đến IFC, Hà Nội hiện tại cũng đã có những cơ chế rất đặc biệt. Xin mời ông Tuấn chia sẻ về cơ chế này và thử "thuyết phục" xem liệu một kỳ lân công nghệ tương lai từ TP. Hồ Chí Minh có thay đổi quan điểm về Hà Nội không?
TS. Trần Anh Tuấn: Tôi đến đây hôm nay với mục tiêu lớn nhất là lắng nghe và học hỏi. Mục tiêu thứ hai là gửi một thông điệp đến cộng đồng đang quan tâm đến lĩnh vực kinh tế mới này.
Đúng như anh Thanh chia sẻ, lãnh đạo thành phố đã nhận diện rõ một thực trạng: Hà Nội có rất nhiều tiềm năng nhưng lại đang trong tình cảnh "có nhiều thứ mà thành ra không có gì". Rất nhiều nhân tài đã rời bỏ Hà Nội để lập nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, hoặc ra nước ngoài như các nước ASEAN, Trung Quốc.
Vậy Hà Nội hiện nay đang muốn gì? Quan điểm và thông điệp của chúng tôi là đưa Hà Nội trở thành điểm đến hấp dẫn nhất thế giới về đầu tư – tôi nhấn mạnh là thế giới chứ không chỉ Việt Nam. Chúng tôi muốn thu hút lại toàn bộ lực lượng chất xám, nguồn nhân lực và tài chính mà Hà Nội đã từng đánh mất.

Vì vậy, nếu để ý, trong năm vừa qua, Hà Nội đã bắt đầu cụ thể hóa các định hướng lớn, dựa trên Nghị quyết 98 của TP.HCM và các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết 68. Trong một số câu hỏi mà ban tổ chức gửi, tôi cũng xin chia sẻ luôn.
Thứ nhất về chính sách, tôi cho rằng với một địa phương hay vùng lãnh thổ, yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh chính là chính sách. Việt Nam đang có nhiều thay đổi và Hà Nội cũng không ngoại lệ.
Thành phố rất may mắn khi có Luật Thủ đô sửa đổi năm 2024 với nhiều điều khoản vượt trội. Chúng tôi đã vận dụng Luật Thủ đô kết hợp với Luật Khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị và một số quy phạm pháp luật khác để ban hành sáu nghị quyết quan trọng.
Trong đó có những nội dung lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, ví dụ như nghị quyết về sandbox. Ngay cả thành phố Hồ Chí Minh cũng chưa có nghị quyết về sandbox, nhưng Hà Nội đã triển khai, xác định bốn nhóm lĩnh vực ưu tiên, bao gồm cả lĩnh vực mà hôm nay chúng ta đang thảo luận. Hiện nay, thành phố đang tiếp nhận hồ sơ và đề xuất để phối hợp cùng doanh nghiệp thực hiện các thử nghiệm này.
Thứ hai, Hà Nội là địa phương đầu tiên có Nghị quyết thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm. Thành phố đã chi ngay "vốn mồi" 600 tỷ đồng và thu hút gần 10 nhà đầu tư chiến lược tham gia. Quỹ này sẽ vận hành hoàn toàn theo cơ chế thị trường, không có pháp nhân nhà nước, được quản lý bởi Hội đồng quỹ nhằm thoát khỏi sự rườm rà của ngân sách và chấp nhận chia sẻ rủi ro.
Ngoài ra, chúng tôi còn có các nghị quyết về đột phá phát triển khoa học công nghệ, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và Sàn giao dịch công nghệ. Dự kiến ngày 22/12 tới đây, chúng tôi sẽ chính thức bấm nút vận hành sàn này. Tôi cũng vừa báo cáo Thành ủy về việc tích hợp thêm chức năng Sàn giao dịch tài sản số vào hệ thống, đúng như tinh thần Nghị quyết 05. Có những việc cả nước chưa làm được, nhưng riêng Hà Nội vẫn được phép làm nhờ cơ chế của Luật Thủ đô.
Vừa qua, Quốc hội đã thông qua các nghị quyết đặc thù cho Hà Nội chỉ trong vòng một tuần. Sắp tới, chúng tôi sẽ tiếp tục sửa đổi, cập nhật Luật Thủ đô và các chính sách mới để nâng cao vị thế cạnh tranh quốc tế.
Quan điểm của Hà Nội hiện nay là không nhìn lại phía sau, nghĩa là không so sánh với các địa phương trong nước mà chỉ so sánh với khu vực và quốc tế. Dù chưa được định danh chính thức là Trung tâm tài chính quốc tế, nhưng tôi khẳng định chắc chắn trong tương lai gần, Hà Nội sẽ trở thành một trung tâm như vậy.
Chúng tôi mong muốn nguồn lực và chính sách của Hà Nội sẽ gặp được đúng các nhà đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp như các bạn ngồi đây. Hà Nội đang "đốt đuốc" đi tìm các kiến trúc sư trưởng cho các lĩnh vực dữ liệu, phần cứng, chip bán dẫn và cả tài sản số.
Tôi muốn gửi lời mời gọi: Nếu quý vị quan tâm đến Hà Nội, hoặc trước đây từng muốn đầu tư nhưng e ngại môi trường khó khăn, thì nay xin hãy quay lại. Tôi và lãnh đạo thành phố luôn khẳng định: Hà Nội nay đã khác rồi. Khác xưa rất nhiều.
Nếu quý vị cần gặp lãnh đạo Hà Nội, từ cấp cao nhất đến các Sở ngành như chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng tiếp đón 24/7. Chúng tôi hiện làm việc với tinh thần "từ thứ Hai đến thứ Hai", từ sáng đến sáng, chỉ có giờ nghỉ chứ không có ngày nghỉ. Bất cứ lúc nào quý vị cần hỗ trợ về chính sách hay nguồn lực, chúng tôi đều có mặt và đồng hành.
Chúng tôi hy vọng với tinh thần cầu thị và đổi mới đó, cộng đồng doanh nghiệp sẽ thay đổi định kiến, dành thời gian nghiên cứu kỹ hơn về cơ hội đầu tư tại Hà Nội.
Vừa rồi ông Tuấn có chia sẻ về quyết tâm của Hà Nội nhưng cũng mong muốn ông chia sẻ một chút về mặt thực tiễn.
Thứ nhất, đã có những doanh nghiệp nào tìm hiểu, mong muốn trong lĩnh vực tài sản số, tài sản công nghệ mới chưa? Thư hai, nếu Hà Nội đã coi lĩnh vực tài sản số, tài sản mã hóa là một hướng đi bắt buộc, vậy chúng ta sẽ ứng dụng trong những lĩnh vực nào, chúng ta đưa nó đi vào cuộc sống thế nào?
TS. Trần Anh Tuấn: Mục tiêu của Hà Nội từ năm 2026 đến 2030 thì tỷ trọng kinh tế số trong GDP phải đạt 40% trở lên, song song với đó là mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt từ 11% trở lên trong nhiều năm tới.
Với mô hình kinh tế truyền thống, mô hình tăng trưởng truyền thống thì rất khó có thể đạt được, hoặc nếu có đạt được cũng không thể bền vững. Vì vậy, chỉ có con đường khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và đặc biệt là những mô hình tăng trưởng mới như kinh tế số.
Chính vì vậy, chúng tôi làm mọi cách, mọi điều kiện có thể, cố gắng đồng bộ hóa, làm sạch, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu. Đúng như các chuyên gia nhận định, Hà Nội sở hữu một mỏ vàng khổng lồ về dữ liệu nhưng lại không khai thác được gì từ dữ liệu cả.
Thậm chí để cho doanh nghiệp nước ngoài đến lấy dữ liệu của mình để kiếm tiền của mình, trong khi mình lại không kiếm được một đồng nào. Đó là cái thất thoát vô cùng lớn về mặt kinh tế.
Quay trở lại câu hỏi. Đã có rất nhiều doanh nghiệp tới làm việc với chúng tôi. Chúng tôi cũng đã chuẩn bị Sandbox một số thí điểm. Trong đó, ví dụ như Hà Nội sẽ là thành phố đầu tiên bỏ tiền ngân sách để mua kết quả nghiên cứu của nhà khoa học để thương mại hóa, thử nghiệm và đưa vào cuộc sống.

Ngày 22/12 này sẽ ký hợp đồng với một nhóm nghiên cứu về kit test phát hiện ung thư đã được cấp bằng bảo hộ sáng chế rồi. Lãnh đạo thành phố, Sở Khoa học Công nghệ tham mưu và quyết tâm là phải mua bằng được. Không được để những cái đó bán ra nước ngoài.
Hoặc về Nghị định 271 của Chính phủ về thành lập doanh nghiệp spin-off. Chúng tôi làm việc với tất cả các trường đại học, và cũng ngày 22/12 này chúng tôi sẽ ký 5 MOU, thành phố sẽ cấp tiền cho 5 nhóm nghiên cứu để thành lập doanh nghiệp spin-off của các trường đại học lớn.
Hay với lĩnh vực blockchain, chúng tôi cũng đang làm việc với các đơn vị có năng lực để giải bài toán về truy xuất nguồn gốc trong an toàn thực phẩm, qua đó gây dựng lại niềm tin của người tiêu dùng.
Thời gian qua, một số doanh nghiệp quốc tế đã xuất hiện trong lĩnh vực tài sản số tại Việt Nam. Việc đưa các doanh nghiệp nước ngoài vào lĩnh vực này có mâu thuẫn gì với Nghị quyết 05, trong khi chúng ta đang kêu gọi doanh nghiệp Việt Nam thành lập sàn giao dịch và hạn chế sở hữu nước ngoài?
TS. Trần Quý: Chúng ta có một "tam giác" ràng buộc: thứ nhất là nhu cầu phát triển về nguồn vốn, thứ hai là thể chế, và thứ ba là năng lực nguồn lực. Nghị quyết 05 có quy định doanh nghiệp nước ngoài không quá 49%. Tuy nhiên, trung tâm tài chính quốc tế lại là một khái niệm khác, vẫn tuân theo Nghị quyết 05 nhưng có những đặc thù riêng.
Chủ trương hiện nay vẫn là tìm kiếm nguồn lực, nhà cung cấp nền tảng mạnh thay vì phải tự xây dựng từ đầu. Ví dụ như Binance, những năm qua họ đã chứng minh được hạ tầng kết nối của mình.
Chúng ta có thể tận dụng điều này, tất nhiên chi tiết cụ thể còn nhiều, nhưng đó là một lựa chọn tối ưu.
Trước đây cũng có câu hỏi tại sao không phải là công ty trong nước. Chúng ta có thể tưởng tượng như một hệ sinh thái, cần rất nhiều chủ thể như nền tảng, hạ tầng. Trung tâm tài chính quốc tế cần một hạ tầng vững chắc để kết nối với mạng lưới quốc tế, các giao dịch cần sự kết nối này.

Vì vậy, tôi nghĩ giữa Nghị quyết 05 và trung tâm tài chính quốc tế có sự liên kết nhưng cũng có những điểm khác biệt.
Trước đây, khi nhắc đến công nghệ, chúng ta có nhiều niềm tin hơn với doanh nghiệp ngoại vì họ có “mác”, có tuổi đời, có những gì đó mang tầm vóc quốc tế. Vậy, đặt lên bàn cân trong lĩnh vực tài sản số và tài sản mã hóa này, ông Thanh cho rằng chúng ta có ngại những doanh nghiệp ngoại không? Nếu chúng ta có cơ chế thông thoáng, chính sách cởi mở như ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM cho phép làm những thứ trước đây chưa được làm, thì cuộc chơi này có thay đổi cán cân không?
Ông Lê Thanh: Đầu tiên là về năng lực, tức là chất lượng và số lượng nguồn nhân lực. Trong 8 năm làm việc từ 2017 đến nay và tiếp xúc với nhiều chuyên gia trên thế giới, tôi chưa thấy một công ty top đầu nào trong ngành blockchain không có người Việt. Tất cả các công ty, kể cả những người khổng lồ như Binance, Coinbase hay những nhà nghiên cứu nền tảng lõi như Ethereum, đều có sự đóng góp của người Việt, từ nền tảng học thuật đến các giải pháp top đầu.
Về yếu tố địa lý, blockchain là một trong những ngành mà người Việt may mắn được tiếp cận. Nhiều người Việt sinh ra ở đây, đi học tập và làm việc tại Mỹ cho các công ty hàng đầu. Biết về Nghị quyết 05, họ ngay lập tức liên hệ để hỏi làm thế nào để có thể quay về và đóng góp vào nền tảng này. Đó là một tín hiệu rất đáng mừng.
Về yếu tố khởi nghiệp, trong những năm qua, Việt Nam cũng có nhiều doanh nghiệp cố gắng phát triển trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, do thiếu một hành lang pháp lý cụ thể và sự hỗ trợ rõ ràng từ chính sách nhà nước nên so với các nước hiện đại, đó là một thử thách.
Nhưng hiện nay, khi nhà nước mở cửa chính sách và ủng hộ tài sản số, công nghệ Blockchain, tôi nghĩ đây là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp trong nước cũng như các tài năng trẻ quay về đóng góp và tự tin phát triển.
Cái cuối cùng còn thiếu ở Việt Nam, theo tôi, là niềm tin và tinh thần dám nghĩ dám làm đến cùng. Lúc tôi mới tham gia lĩnh vực blockchain và tài sản số, không ai tin ngành này sẽ là ngành công nghiệp của tương lai. Nhưng hôm nay, khi tôi được ngồi ở đây và được nhà nước hỗ trợ, đó là sự công nhận rất lớn và có ý nghĩa với những người làm nghề như chúng tôi. Sự công nhận đó sẽ mang lại niềm tin không chỉ cho các bạn trẻ mà còn cho các chủ doanh nghiệp, những người sáng lập có thể tự tin phát triển.
Về mặt công nghệ, khó có thể nói Việt Nam đứng top đầu, nhưng tôi nghĩ mình cũng không thua ai. Khoảng cách giữa mình và các nước phát triển như Mỹ là rất ngắn. Các ngành công nghiệp khác cần đầu tư hạ tầng kỹ thuật rất lớn, nhưng blockchain với tính chất phi tập trung và chia sẻ nguồn lực đã giảm thiểu yêu cầu này.
Việt Nam cũng là nước có nền giáo dục tập trung nhiều vào toán học, có nhiều người giỏi toán, đây là yếu tố thuận lợi để người Việt bắt kịp xu thế thế giới. Tôi rất hy vọng trong thời gian tới sẽ thấy nhiều doanh nghiệp, sáng kiến mới trong ngành này, đóng góp không chỉ cho Việt Nam mà còn cho sự phát triển của ngành công nghiệp này trên toàn thế giới.
TS. Trần Anh Tuấn: Trước khi kết thúc phiên, tôi xin chia sẻ thêm. Chính sách về chuyên gia, tổng công trình sư, kiến trúc sư đã được quy định rõ tại Nghị định 231 và thành phố Hà Nội cũng đã có những nhóm chính sách cụ thể.
Về phía nội bộ thành phố, chúng tôi có cơ chế rất linh hoạt. Ví dụ như tôi có thể được phép ký hợp đồng chuyên gia với các chuyên gia và thành phố sẽ chi trả kinh phí. Hoặc nếu chúng tôi muốn chiêu mộ các bạn trẻ có trình độ, mong muốn cống hiến cho thành phố, tôi có thể trực tiếp ký hợp đồng và trả lương. Nếu các bạn muốn cống hiến lâu dài, có thể vào biên chế của thành phố Hà Nội.
Tôi rất mong qua diễn đàn này, với network riêng của mỗi người, quý vị giúp chúng tôi lan tỏa tinh thần này. Nếu có ai đó mong muốn cống hiến cho Thủ đô, xin hãy liên hệ với chúng tôi.

Đưa ra định nghĩa về Blockchain, ông Thanh cho rằng, Blockchain là một công nghệ. Trong thế giới công nghệ có rất nhiều loại hình, Blockchain thuộc nhóm công nghệ tập trung vào một “key” cốt lõi là hệ thống sổ cái phân tán.
Nói một cách ngắn gọn, Blockchain là hệ thống sổ cái phân tán, lưu trữ dữ liệu. Mỗi giao dịch mới được gửi đến toàn bộ mạng lưới để kiểm tra và đạt đồng thuận. Khi đã ghi vào chuỗi, dữ liệu trở thành bất biến và không thể xóa hay sửa đổi.
Ông Thanh ví von bằng một câu chuyện quen thuộc khi còn là sinh viên, một nhóm bạn thường thay phiên nhau trả tiền mỗi lần đi uống cà phê. Để biết ai đã trả, mỗi người đều ghi lại vào sổ. Nếu có ai ghi sai, chín người còn lại có thể kiểm tra và xác nhận người đó ghi không đúng.
Blockchain vận hành cũng theo nguyên lý đó. Nó là một hệ thống sổ cái chung, trong đó tất cả dữ liệu được lưu giữ đồng thời, đảm bảo tính minh bạch, an toàn và không thể chỉnh sửa.
Mỗi giao dịch mới được gửi tới toàn bộ mạng lưới để kiểm tra sự đồng thuận. Một khi đã được ghi vào Blockchain, dữ liệu trở nên bất biến – không thể xóa và cũng không thể thay đổi.
Ông Thanh chỉ ra 4 đặc trưng của Blockchain.
Đầu tiên là tính phi tập trung. Công nghệ này không phụ thuộc vào bất kỳ máy chủ trung gian nào. Với các ứng dụng thông thường hiện nay, dữ liệu thường được lưu trữ tập trung trên Cloud, AWS hoặc các hệ thống tương tự.
Ngược lại, Blockchain phân tán dữ liệu qua nhiều nút (node) khác nhau, tạo nên mức độ an toàn, bảo mật cao và gần như không thể can thiệp hay làm sai lệch dữ liệu.
Đặc trưng thứ hai là tính minh bạch. Mọi giao dịch đều có thể kiểm tra công khai trên mạng lưới – yếu tố đặc biệt quan trọng đối với các ứng dụng tài chính. Thời gian qua dư luận đã chứng kiến nhiều sự vụ liên quan đến thiếu minh bạch tài chính; và công nghệ Blockchain có khả năng giải quyết những vấn đề đó.
Thứ ba là tính bất biến. Một khi thông tin giao dịch đã được ghi vào Blockchain thì không thể chỉnh sửa hay thay đổi.
Và cuối cùng, Blockchain không cần trung gian. Các giao dịch như chuyển tiền, ký hợp đồng hay xác minh đều được thực hiện thông qua hợp đồng thông minh (smart contract).
"Bốn đặc trưng này tạo nên một giá trị cốt lõi – niềm tin. Chỉ trong một hệ thống không cần dựa vào bên trung gian, nơi dữ liệu khi đã ghi nhận là chính xác, không thể thay đổi, minh bạch và khó bị tấn công, chúng ta mới có thể xây dựng được niềm tin lớn, niềm tin số cho nền kinh tế số", ông Thanh nhìn nhận.
Ba ứng dụng Blockchain cho doanh nghiệp
Theo ông Thanh, trên thế giới, Blockchain được phát triển từ năm 2009. Tại Việt Nam, công nghệ này ngày càng được quan tâm trong các định hướng lớn của quốc gia.
Tháng 12/2024, Nghị quyết 57 xác định Blockchain là một trong những công nghệ trọng tâm. Đến tháng 6/2025, các chính sách về đổi mới sáng tạo và khoa học – công nghệ tiếp tục bổ sung các nội dung liên quan đến Blockchain. Gần đây nhất, công nghệ này tiếp tục được nhắc đến trong Nghị quyết 05.
Blockchain có ba ứng dụng quan trọng cho các doanh nghiệp là thanh toán xuyên biên giới; xác thực, truy xuất nguồn gốc và token hoá tài sản.
Với việc xác thực và truy xuất nguồn gốc. Blockchain ghi dữ liệu một cách minh bạch và không thể làm giả, giúp cố định lịch sử sản phẩm mà không thể chỉnh sửa hay xoá dấu vết.
Việt Nam đã có nhiều ví dụ, như hệ thống của chuỗi nhà thuốc Long Châu. Các sản phẩm có yếu tố rủi ro – hàng hóa, dược phẩm hay bất kỳ mặt hàng cần chứng minh nguồn gốc – đều có thể dễ dàng áp dụng Blockchain để xác thực và truy vết.
Điểm mạnh của Blockchain là toàn bộ dữ liệu được ghi nhận công khai trên mạng lưới, bất kỳ ai cũng có thể kiểm tra. Điều này góp phần quan trọng giải bài toán niềm tin – yếu tố cốt lõi của kinh tế số.
Việc cố định lịch sử sản phẩm giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng nhìn thấy toàn bộ chuỗi cung ứng. Trên thế giới, Walmart đã áp dụng Blockchain để kiểm soát nguồn gốc hàng hóa nhập kho; Nestlé cho phép khách hàng truy cập toàn bộ dữ liệu cung ứng của từng mặt hàng.
Tại Việt Nam, nhiều vấn đề như hàng giả, hàng nhái – từ sữa đến các mặt hàng tiêu dùng – cho thấy nhu cầu cấp thiết của việc minh bạch nguồn gốc. Với tư cách người tiêu dùng, ai cũng mong muốn có thể quét một mã QR và ngay lập tức biết sản phẩm mình mua đến từ đâu và liệu nguồn gốc đó có đúng như công bố hay không.
Thứ hai là ứng dụng thanh toán xuyên biên giới. Ông Thanh nhìn nhận, thanh toán xuyên biên giới là một trong những ứng dụng đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam – một quốc gia xuất khẩu với nhiều mặt hàng chủ lực, từ nông sản đến điện tử và các sản phẩm thuộc khu vực FDI.

Ông Thanh lấy dẫn chứng, khi bước vào lĩnh vực Blockchain, ông có một giai đoạn kinh doanh tại Mỹ thông qua Amazon và nhiều nền tảng thương mại điện tử khác. Trong quá trình nhập hàng, xuất hàng và thu tiền từ thị trường quốc tế rồi chuyển về Việt Nam, ông nhận thấy thời gian chờ là rất lớn – tính bằng ngày, thậm chí bằng tuần. Đôi khi tài khoản tại các nền tảng nước ngoài còn bị khóa, khiến dòng tiền bị đình trệ.
Chi phí để nhận tiền về Việt Nam cũng không hề nhỏ. Trước đây, khi rút tiền từ PayPal, ông thường phải chờ 2–3 ngày và mỗi giao dịch mất khoảng 5% phí. Tuy nhiên, khi ứng dụng Blockchain, mọi thứ thay đổi rõ rệt. Chi phí chuyển tiền gần như bằng 0 – giống như chuyển khoản nội bộ ngân hàng. Việc rút tiền gần như diễn ra tức thì, không còn tình trạng chờ đợi kéo dài.
Điều này mang lại giá trị rất lớn cho các doanh nghiệp chuyên nhập – xuất hàng. Việc giải phóng dòng vốn gối đầu chỉ trong 1–2 ngày, thay vì cả tuần, tạo ra những lợi ích tài chính có thể tính bằng hàng tỷ USD trên quy mô toàn nền kinh tế.
Với Blockchain, thanh toán xuyên biên giới đã cải thiện đáng kể tốc độ luân chuyển vốn – một yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, một đồng tiền ở Việt Nam chỉ được chi tiêu một vòng, trong khi tại Singapore con số đó lên tới ba vòng. Ứng dụng Blockchain có thể giúp rút ngắn thời gian luân chuyển, tăng hiệu suất sử dụng vốn. Phí giao dịch thấp, thậm chí gần như bằng 0; tốc độ xử lý nhanh vượt trội; hoạt động 24/7 không phụ thuộc giờ hành chính.
Một điểm mạnh khác là trạng thái giao dịch được cập nhật theo thời gian thực. Khi chuyển tiền hoặc nhận tiền, doanh nghiệp có thể kiểm chứng ngay trên Blockchain vì tất cả đều minh bạch. Điều này giải quyết triệt để các tình huống như đối tác thông báo đã chuyển nhưng hóa đơn lại là giả. Trên Blockchain, chỉ cần kiểm tra là biết giao dịch đã diễn ra hay chưa, ví đã nhận tiền hay không và số tiền thực nhận là bao nhiêu. Điều này cho thấy rõ sức mạnh và ưu thế rất lớn của Blockchain so với các hệ thống hiện hành.
Quan trọng hơn, theo ông Thành, ứng dụng quan trọng và được quan tâm nhất của Blockchain là Token hóa tài sản. Những loại tài sản có thể được Token hóa và đưa lên On-chain được chia thành hai nhóm: tài sản thực (RWA – Real World Assets) và tài sản vô hình.
Theo đó, tài sản thực là những tài sản hữu hình, có thể định giá như bất động sản, trái phiếu, tín dụng cùng nhiều loại tài sản truyền thống khác.
Đối với tài sản thực (RWA), Token hóa giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận một dòng vốn hoàn toàn mới, đặc biệt là từ nhà đầu tư nước ngoài. Do đặc tính toàn cầu của Blockchain, nhà đầu tư ở bất kỳ đâu cũng có thể quan tâm và tham gia vào các tài sản tại Việt Nam, từ bất động sản, trái phiếu cho tới những sản phẩm tài chính khác.
Trước đây, những nhà đầu tư cá nhân ở Mỹ, Trung Quốc hay Singapore dù muốn đầu tư vào thị trường Việt Nam nhưng hầu như không có công cụ phù hợp để thực hiện. Khi các tài sản này được Token hóa và đưa lên một sàn giao dịch, dòng tiền quốc tế có thể tiếp cận trực tiếp và dễ dàng.
Mặt khác, Blockchain còn giúp giảm chi phí, tối giản thủ tục và mở ra những thị trường hoàn toàn mới cho cả tài sản thực lẫn tài sản vô hình. Việc tiếp cận vốn trở thành câu chuyện hai chiều: doanh nghiệp Việt Nam dễ tiếp cận nhà đầu tư quốc tế, và ngược lại nhà đầu tư cũng có công cụ để tiếp cận thị trường Việt Nam.
Một lợi ích nữa mà ông Thanh đánh giá rất cao ở Blockchain là khả năng sở hữu theo phần. Đây không chỉ dành cho nhà đầu tư quốc tế, mà đặc biệt quan trọng với giới trẻ trong nước. Thế hệ của tôi và của những người em tôi ai cũng mong muốn sở hữu nhà, nhưng giá bất động sản hiện nay quá cao, vượt ngoài khả năng của nhiều người trẻ. Trong khi đó, bất động sản vẫn là một kênh đầu tư hấp dẫn.
Token hóa giải quyết vấn đề này bằng cách cho phép tài sản được phân mảnh thành những phần nhỏ. Lần đầu tiên, người trẻ có thể tiếp cận việc đầu tư bất động sản theo từng phần nhỏ: có thể mua 10%, 20% giá trị một căn hộ, rồi khi thu nhập tăng, tiếp tục mua thêm 20% hay 30%. Thay vì phải làm việc trong nhiều năm để tích lũy đủ số tiền lớn mới có thể bước vào thị trường, họ có thể tham gia sớm, từng bước sở hữu dần tài sản.
Giá tài sản tăng cao tạo ra rào cản lớn, nhưng Blockchain giúp phân tách và thương mại hóa tài sản theo đơn vị nhỏ, mở cơ hội cho nhà đầu tư nhỏ lẻ trong nước và cả quốc tế.
Còn với tài sản vô hình. Đây là các tài sản chưa có thị trường để giao dịch hay thương mại hóa chúng một cách hiệu quả như bằng sáng chế, sở hữu trí tuệ, bản quyền...
Chính vì vậy, Blockchain mở ra khả năng thương mại hóa những tài sản này. Những giá trị vô hình vốn tồn tại nhưng “không có giá”, không có thị trường, không có cơ chế để nhà đầu tư tham gia, nay có thể được Token hóa và giao dịch.
Ví dụ trong lĩnh vực giải trí, nhiều nghệ sĩ Việt Nam sở hữu các bài hát đạt hàng tỷ lượt xem trên thế giới. Ở nước ngoài, những tài sản như vậy có giá trị và được nhiều nhà đầu tư rót vốn. Do đó, khi được Token hóa, những nghệ sĩ – những người sở hữu tài sản vô hình ở Việt Nam sẽ có một kênh gọi vốn mới và một thị trường giao dịch mới.
Token hóa tài sản – cả tài sản thực và tài sản vô hình – giúp mở khóa dòng vốn trong nước và quốc tế, tạo thanh khoản và hình thành những thị trường mới cho các loại tài sản vốn dĩ trước đây không có nơi giao dịch hoặc thanh khoản rất thấp. Đây là một trong những ứng dụng có tác động mạnh nhất của Blockchain đối với nền kinh tế.
Chia sẻ về hệ sinh thái Ninety Eight, ông Thanh tiết lộ, trong những năm gần đây, Ninety Eight theo đuổi triết lý xây dựng nền tảng cốt lõi. Doanh nghiệp phát triển hai nhóm sản phẩm chính. Thứ nhất là công nghệ Ví (Wallet) – giải pháp giúp người dùng lưu trữ tài sản trên Blockchain một cách an toàn và minh bạch.
Trong hệ sinh thái Ninety Eight, doanh nghiệp xây dựng sản phẩm Ramper, một giải pháp quản lý ví Blockchain hiện đang có vài triệu người dùng trên toàn cầu. Đây là công nghệ mà đội ngũ Ninety Eight nghiên cứu nhiều năm và gần đây đã được USPTO (Mỹ) cấp bằng sáng chế. Việc được ghi nhận sáng chế tại Mỹ là một dấu mốc quan trọng, khẳng định nỗ lực và năng lực nghiên cứu – phát triển của đội ngũ.
Sản phẩm cốt lõi thứ hai là về Chain (chuỗi). Theo đó, Viction là một Blockchain Layer-1 đã vận hành ổn định từ năm 2018 theo cơ chế phi tập trung, hiện có hơn 5 triệu tài khoản trên toàn cầu và được tích hợp trên nhiều nền tảng hàng đầu thế giới.
Ông Thanh kỳ vọng rằng, trong thời gian tới, với Nghị quyết 05 mở ra nhiều cơ chế mới, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm điều kiện thu hút vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khai thác tốt hơn các cơ hội thương mại. Ninety Eight mong muốn đóng góp nhiều hơn những giải pháp hạ tầng công nghệ phục vụ cộng đồng doanh nghiệp và đất nước.
Thành phần tham dự:
- Bà Lê Vũ Hương Quỳnh, Giám đốc phát triển khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Tether
- Ông Nguyễn Trung Trang, Giám đốc sản phẩm SSI Digital
- Ông Hà Trung Kiên, Phó chủ tịch Tập đoàn G-Group
- Ông Nguyễn Thế Vinh, nhà đồng sáng lập Ninety Eight

Thị trường tài sản số, tài sản mã hóa như một cuộc đua rất “nóng”. Vậy tại SSID, câu chuyện này có thực sự nóng không? Công ty đang có kế hoạch gì để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến tài sản số, tài sản mã hóa (ví dụ: lưu ký, quản lý quỹ, tư vấn đầu tư)?
Ông Nguyễn Trung Trang: Thật ra thì cuộc đua xin sandbox, từ 9/9 vừa rồi đã nóng rồi, nhiều bên vào tham gia. Có hai cái được công bố chính thức để thấy SSI đi nghiêm túc.
Thứ nhất, SSID tăng vốn lên 1.000 tỷ đồng, không ai bỏ 1.000 tỷ để chơi cả. Và chúng tôi đang tăng có kế hoạch vốn lên 25.000 tỷ nên chúng tôi rất nghiêm túc trong việc xin sandbox.
Sự xuất hiện của tài sản số, tài sản mã hóa sẽ đi kèm những cơ hội và thách thức gì?
Ông Nguyễn Trung Trang: Trước tiên, cần phân biệt rõ công nghệ blockchain và tài sản số. Ví dụ, khi chuyển đổi, nhiều người nhầm lẫn giữa việc ứng dụng công nghệ blockchain và phát hành token.
Công nghệ blockchain có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, doanh nghiệp của tôi là chuỗi trung tâm đào tạo ngoại ngữ, có rất nhiều dữ liệu cần chuyển giao giữa các trung tâm. Tuy nhiên, mỗi trung tâm giữ một phần dữ liệu riêng lẻ và khó chia sẻ. Chúng tôi có thể sử dụng một private blockchain để chia sẻ và quản lý dữ liệu này một cách an toàn và minh bạch.
Về thị trường tài sản số, hiện nay từ Chính phủ, báo chí đến các đơn vị đều rất hào hứng với những chuyển đổi và triển vọng về một thị trường mới. Mọi người kỳ vọng vào khả năng đầu tư kiếm lời nhanh chóng, "x mấy, x mấy". Tuy nhiên, điều này cũng là rủi ro lớn nhất.
Tôi cho rằng Tokenize Real World Assets (RWA - Mã hóa tài sản thực) chính là loại tài sản tốt nhất. Các doanh nghiệp có lãi thật, hoạt động thật có thể phát hành token để mở rộng quy mô vốn ra nước ngoài. Ví dụ, doanh nghiệp có tổng tài sản 1000 tỷ có thể phát hành 1000 tỷ token để bán cho nhà đầu tư nước ngoài, thu hút thêm vốn về Việt Nam.

Những ngành nghề được hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng này sẽ là bất động sản, tài sản số và các doanh nghiệp có khả năng tạo ra giá trị thực. Trước đây, doanh nghiệp muốn IPO rất khó khăn, điều kiện khắt khe. Nhưng hiện nay, nếu làm tốt, có dòng tiền, có người dùng, doanh nghiệp hoàn toàn có thể phát hành token, coi như một dạng IPO sớm.
Những đơn vị thực sự có tài sản, có giá trị và giá trị lớn nhất chính là dòng tiền. Nếu có người dùng, có dòng tiền thì chính là lợi thế. Token hóa tài sản số sẽ rất chất lượng trong tương lai.
Chúng ta có sự góp mặt của G-Group, một tập đoàn công nghệ thuần túy. Thưa ông Kiên, phía G-Group đang nhìn nhận tài sản số như thế nào? Liệu ông có góc nhìn nào khác biệt so với SSI Digital?
Ông Hà Trung Kiên: Tôi xin chia sẻ một câu chuyện nhỏ. Cách đây 5-6 năm, chúng tôi nghe rất nhiều về đầu tư Crypto. Lúc đó, chúng tôi thấy nó rất ảo, không gắn liền với một mô hình kinh doanh (Business Model) thực tế nào nên quyết định không tham gia dù thị trường rất nóng.
Đến thời điểm hiện tại, khi các nước bắt đầu có quy định pháp luật và Việt Nam cũng đang xây dựng khung pháp lý, chúng tôi nhìn nhận rằng những mô hình kinh doanh thực tế, mang lại giá trị cho người dùng, khách hàng và doanh nghiệp, gắn liền với đời sống hàng ngày mới là tiềm năng trong thời gian tới.
Công nghệ Blockchain khi áp dụng vào những mô hình kinh doanh này sẽ tạo ra đột phá cho doanh nghiệp. Đó là điều chúng tôi nhìn thấy và tin tưởng trong tương lai.
Chúng tôi về mảng tài chính công nghệ cũng có rất nhiều Use case phù hợp để đưa lên blockchain nhằm tăng hiệu suất kinh doanh. Thứ hai là thay đổi hoàn toàn cách thức cũng như mô hình kinh doanh hiện tại. Đó là cái nhanh nhất, có những cái liên quan đến tài chính thì rất phù hợp. Thứ hai là liên quan đến câu chuyện truy xuất nguồn gốc, đấy là những cái nó tăng lên sự minh bạch trong thị trường.
Tài sản số đòi hỏi phương thức làm việc mới, với cường độ cao. Nhìn ra thị trường quốc tế, lĩnh vực này hoạt động 24/7 và không có ngày nghỉ. Điều này liệu có làm thay đổi văn hóa làm việc, mô hình vận hành của các tập đoàn công nghệ hiện tại không?
Ông Hà Trung Kiên: Khác với thị trường chứng khoán có giờ giao dịch, giờ nghỉ, ngày nghỉ cuối tuần và quy trình thanh toán T+2 hay T+3, thị trường tài sản số thực sự hoạt động 24/7 không ngừng nghỉ.
Đối với các doanh nghiệp công nghệ như chúng tôi, đặc biệt là khi cung cấp các dịch vụ liên quan đến an toàn thông tin cho khoảng 70-80% ngân hàng tại Việt Nam, đội ngũ vận hành hệ thống giám sát an ninh mạng (SOC) gần như đã quen với việc trực chiến 24/7. Vì vậy, sự thay đổi về mặt vận hành không quá lớn.
Đối với người làm sản phẩm công nghệ, chúng tôi luôn chạy theo nhu cầu thị trường và người dùng. Thách thức lớn nhất ở đây không phải là thời gian làm việc, mà là làm sao để đội ngũ nhân sự có đủ năng lực và kinh nghiệm (know-how) để xử lý một khối lượng giao dịch khổng lồ trong thời gian thực, điều mà chưa nhiều người có kinh nghiệm triển khai.

Câu chuyện của ông Kiên cho thấy một thực tế là nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong quá trình chuyển đổi và chưa thực sự vận hành hoàn toàn trên blockchain.
Với kinh nghiệm 9 năm hoạt động trong lĩnh vực này và đã vươn ra thị trường quốc tế, ông Vinh có thể chia sẻ về cách thức làm việc tại Ninety Eight? Liệu đội ngũ của ông có phải làm việc 24/7 hay không?
Ông Nguyễn Thế Vinh: Năm nay là năm thứ 9 chúng tôi hoạt động, đi lên từ cộng đồng và phát triển thành một startup fintech. Về câu hỏi này, tôi muốn nhìn nhận ở góc độ rộng hơn.
Thực tế, không chỉ riêng Ninety Eight mà cả thế giới đã thay đổi rất nhiều sau đại dịch Covid-19. Trước đây chúng ta làm việc trực tiếp (offline), sau đó chuyển sang trực tuyến (online) hoàn toàn, và giờ đây là mô hình kết hợp (hybrid). Lĩnh vực blockchain cũng nằm trong xu thế chung đó.
Mặc dù thị trường hoạt động 24/7, cập nhật liên tục từng giây, nhưng khoảng 80% nhân sự tại các phòng ban của chúng tôi vẫn làm việc theo giờ hành chính bình thường.
Sự khác biệt lớn nhất nằm ở đội ngũ lãnh đạo, quản lý và các nhà sáng lập. Họ mới thực sự là những người phải làm việc 24/7, liên tục cập nhật xu hướng và diễn biến thị trường để đưa ra những dự báo và quyết định kịp thời. Đó là điểm khác biệt lớn nhất giữa một công ty blockchain so với doanh nghiệp truyền thống.
Ông Vinh đã đề cập đến tiềm năng to lớn của thị trường này. Tuy nhiên, ông đánh giá thế nào về những thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi tham gia vào lĩnh vực này, so với những gì ông Trang hay ông Kiên đã chia sẻ?
Ông Nguyễn Thế Vinh: Về thách thức, tôi nghĩ các doanh nghiệp đều gặp những vấn đề tương tự nhau. Thứ nhất là về hành lang pháp lý. Dù chúng ta nói đã có luật, nhưng hiện tại các quy định vẫn còn rất cơ bản, chưa có hướng dẫn cụ thể, giống như mới chỉ có đèn xanh cho phép đi chứ chưa có đường đi rõ ràng.
Thứ hai là rủi ro về hạ tầng và bảo mật, đặc biệt là đối với các sàn giao dịch. Lý do chúng ta cần học hỏi từ các đơn vị nước ngoài có kinh nghiệm là để giảm thiểu rủi ro bị tấn công (hacking) và bảo vệ tài sản người dùng.
Thứ ba là thách thức về tư duy đầu tư. Thị trường giao dịch 24/7 với biên độ dao động lớn tạo ra cơ hội lớn nhưng rủi ro cũng rất cao, dễ dẫn đến tâm lý đầu tư ngắn hạn, "ăn xổi", muốn làm giàu nhanh chóng thay vì đầu tư bền vững.
Tuy nhiên, bên cạnh thách thức là những cơ hội rất rõ ràng. Lý do chúng ta phải phát triển lĩnh vực này là vì nó mang lại một mô hình giao dịch tài chính minh bạch hơn, thanh khoản cao hơn nhờ kết nối toàn cầu, tốc độ giao dịch nhanh hơn và chi phí thấp hơn rất nhiều so với thị trường truyền thống. Đó là những lợi thế không thể chối cãi.

Những nhận định này đang đến từ các doanh nghiệp, định chế tài chính hàng đầu. Vậy với các doanh nghiệp SME, các doanh nghiệp truyền thống thì sao? Ninety Eight có muốn bổ sung gì về cơ hội và thách thức với nhóm doanh nghiệp này?
Ông Nguyễn Thế Vinh: Trước hết, cần phải làm rõ rằng không phải doanh nghiệp nào cũng cần và phù hợp để ứng dụng blockchain. Chúng ta phải xác định rõ nhu cầu và mục tiêu ứng dụng. Về cơ hội, ứng dụng blockchain giúp doanh nghiệp tăng tính minh bạch trong nội bộ, với đối tác và khách hàng. Điều này giúp củng cố niềm tin, giảm thiểu chi phí và thời gian vận hành nhờ loại bỏ các quy trình trung gian rườm rà.
Hơn nữa, nó mang lại trải nghiệm mới mẻ và thú vị hơn cho khách hàng. Về thách thức, rào cản lớn nhất vẫn là sự mới mẻ của công nghệ khiến doanh nghiệp lúng túng trong việc áp dụng. Ngoài ra, tại Việt Nam hiện chưa có nhiều chuyên gia và đơn vị tư vấn đủ năng lực và hạ tầng để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi. Tuy nhiên, Ninety Eight sẵn sàng hỗ trợ tư vấn và cung cấp hạ tầng cho các doanh nghiệp có nhu cầu.
Bàn về thị trường tài sản số, tài sản mã hóa, chúng ta đều thấy quy mô rất lớn, lớn hơn cả thị trường chứng khoán. Nhưng giống như thị trường chứng khoán ở thời kì sơ khởi, việc mua cái gì, đầu tư ra sao luôn là một câu hỏi hóc búa. Đâu sẽ là dạng tài sản số, tài sản mã hóa phù hợp với thị trường Việt Nam?
Ông Nguyễn Trung Trang: Câu hỏi này hơi rộng, và tôi muốn làm rõ một chút để tránh nhầm lẫn. Chúng ta cần phân biệt rõ giữa công nghệ blockchain và tài sản số. Blockchain là công nghệ nền tảng, còn tài sản số là ứng dụng trên nền tảng đó. Ví dụ như doanh nghiệp của tôi dùng blockchain để quản lý dữ liệu đào tạo nội bộ nhưng không nhất thiết phải phát hành token.
Về thị trường tài sản số, hiện tại cả chính phủ, báo chí và doanh nghiệp đều đang rất hào hứng với câu chuyện Việt Nam sẽ có một thị trường mới. Tuy nhiên, mọi người thường nhìn nhận thị trường này với tâm lý đầu cơ, muốn "nhân X lần" tài sản, khác với tư duy đầu tư chứng khoán ăn lãi suất phần trăm. Đây là rủi ro lớn nhất.
Về loại tài sản tiềm năng, tôi cho rằng "Tokenized Assets" (tài sản được token hóa) sẽ là xu hướng bền vững. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh thực tế, có lợi nhuận thật và dòng tiền thật. Họ có thể phát hành token dựa trên giá trị thực của doanh nghiệp để huy động vốn từ thị trường quốc tế.
Ví dụ, một doanh nghiệp có tài sản 1.000 tỷ đồng có thể phát hành token tương ứng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài về Việt Nam. Ngành được hưởng lợi nhiều nhất có lẽ là bất động sản và các doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô vốn thông qua hình thức này. Đây giống như một hình thức IPO sớm (Initial Public Offering) nhưng linh hoạt và dễ tiếp cận hơn nhờ công nghệ blockchain, miễn là doanh nghiệp đó có thực lực, có người dùng và dòng tiền thực sự.

G-Group đang nhìn nhận những loại tài sản nào sẽ trở thành xu hướng trong thời gian tới?
Ông Hà Trung Kiên: Tôi xin chia sẻ một câu chuyện nhỏ. Cách đây khoảng 5 - 6 năm, chúng tôi cũng nghe rất nhiều lời mời chào và trình bày về các cơ hội đầu tư. Chúng tôi đã cởi mở để lắng nghe, tuy nhiên tại thời điểm đó, tôi nhận thấy đa phần các mô hình kinh doanh đều rất ảo, không gắn liền với một thực thể kinh doanh hay giá trị thực tế nào. Do đó, chúng tôi quyết định không tham gia vào mảng này, mặc dù thị trường lúc bấy giờ rất sôi động.
Đến thời điểm hiện tại, khi các quốc gia bắt đầu xây dựng quy định pháp luật và Việt Nam cũng đang trong quá trình hoàn thiện hành lang pháp lý, tôi nhìn thấy tiềm năng thực sự. Tiềm năng này nằm ở những mô hình kinh doanh thực tế, mang lại giá trị cho người dùng, khách hàng và doanh nghiệp. Đó là những hoạt động kinh doanh gắn liền với đời sống hàng ngày. Điều tôi quan tâm là khi áp dụng công nghệ blockchain vào những mô hình này, nó sẽ tạo ra sự đột phá gì cho doanh nghiệp.
Cụ thể, dưới góc độ hệ sinh thái của G-Group, đặc biệt trong mảng tài chính công nghệ, chúng tôi thấy có rất nhiều trường hợp sử dụng (use case) phù hợp để đưa lên blockchain nhằm tăng hiệu suất kinh doanh. Ngoài ra, việc ứng dụng blockchain vào truy xuất nguồn gốc cũng là yếu tố tạo nên sự minh bạch cho thị trường. Đó là những khía cạnh tiềm năng mà tôi đánh giá cao.
Còn nhiều “đại dương xanh”
Quay trở lại một chút, tôi có câu hỏi dành cho ông Vinh. Chắc hẳn ông đã nghe nhiều diễn giả chia sẻ về các dạng tài sản xu hướng. Tuy nhiên, tôi tin rằng vẫn còn những khía cạnh khác, những thị trường ngách nơi ông có năng lực và lợi thế riêng. Ngoài những gì các diễn giả trước đã đề cập, liệu có một “đại dương xanh” nào khác mà ông đang hướng tới hay không?
Ông Nguyễn Thế Vinh: Thường khi nhắc đến tài sản thực (Real World Asset), mọi người hay nghĩ ngay đến việc token hóa những tài sản hữu hình lên không gian blockchain. Đây chắc chắn là trường hợp sử dụng có vốn hóa và tính thực tiễn cao nhất. Tuy nhiên, tại Việt Nam cũng như trên thế giới, có một loại tài sản có giá trị vốn hóa và giá trị thực cực kỳ lớn nhưng chưa được chú trọng khai thác, đó là tài sản về sáng chế và sở hữu trí tuệ.
Hiện tại, các luật lệ về sáng chế hay sở hữu trí tuệ khiến quy trình đăng ký giải pháp công nghệ mới mất rất nhiều thời gian, thường từ 3 - 5 năm, dù là ở Việt Nam hay trên thế giới. Ngay cả khi đã có bằng sáng chế, việc mua bán, giao dịch, khai thác hay cho thuê cũng đòi hỏi giấy tờ và thủ tục vô cùng phức tạp, tốn kém thời gian. Việc đưa được những tài sản vô hình này lên không gian blockchain sẽ giúp quá trình đăng ký, cũng như giao dịch mua bán trở nên nhanh gọn và tiện lợi hơn rất nhiều. Khi đó, khối lượng giao dịch và giá trị khai thác được từ doanh thu sẽ vô cùng lớn.
Bên cạnh đó, công nghệ blockchain còn hỗ trợ những thị trường ngách khác, ví dụ như quản lý cộng đồng người hâm mộ (fan) cho những người nổi tiếng hoặc có sức ảnh hưởng (KOLs). Đây cũng là một ngách rất tiềm năng mà hiện tại chúng ta chưa có bất kỳ công cụ hay công nghệ nào để quản trị hiệu quả lượng người hâm mộ này.
Tether đang làm những gì và tại thị trường Việt Nam, Tether đóng vai trò như thế nào?
Bà Lê Vũ Hương Quỳnh: Tether hiện tại là đơn vị phát hành đồng tiền ổn định (stablecoin) lớn nhất trên thế giới với mức vốn hóa rơi vào khoảng 185 tỷ USD.
Khi Tether bắt đầu giới thiệu khái niệm stablecoin vào năm 2014, ý tưởng xuất phát rất đơn giản: đưa đồng đô la Mỹ lên mạng lưới blockchain. Mục tiêu là giải quyết khó khăn trong việc giao dịch tài sản mã hóa giữa các sàn.
Trước đây, thế giới chỉ có khoảng 3 đến 5 sàn giao dịch và người dùng gặp rất nhiều khó khăn khi muốn di chuyển tài sản từ sàn A sang sàn B, họ buộc phải bán tài sản đó đi. Do không có quy chuẩn chung, USDT dần trở thành cặp giao dịch phổ biến nhất trên thế giới, ví dụ như BTC/USDT hay ETH/USDT.

Với vai trò là Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tôi có cơ hội tiếp cận nhiều với các doanh nghiệp, chính phủ và cơ quan quản lý ở các quốc gia trong khu vực. Tôi nhận thấy Việt Nam có quá nhiều cơ hội và dư địa để phát triển. Tôi luôn tự nhủ rằng mình là người Việt Nam và đang giữ trọng trách phát triển USDT tại khu vực này. Hàng ngày tôi đi tư vấn cho rất nhiều ngân hàng và doanh nghiệp lớn ở Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, vậy tại sao tôi không thể tư vấn cho các doanh nghiệp tại Việt Nam?
Đến thời điểm này, tôi tự tin rằng mình hoàn toàn có thể làm được việc đó khi Việt Nam đã bắt đầu có khung pháp lý liên quan đến tài sản mã hóa. Xu hướng các nước trong khu vực đang di chuyển rất nhanh trong việc quản lý và cấp phép. Ví dụ, Singapore đã có luật về dịch vụ thanh toán, Hồng Kông vừa đưa ra đạo luật về stablecoin tháng 8 vừa rồi, Hàn Quốc và Nhật Bản cũng đã có khung pháp lý. Thậm chí Thái Lan đang thử nghiệm cơ chế "Tourist Crypto Pay" cho phép khách du lịch thanh toán bằng USDT và nhà cung cấp dịch vụ nhận lại đồng Baht tức thì. Philippines và Indonesia cũng đã áp dụng blockchain vào nhận kiều hối thanh toán xuyên biên giới.
Việt Nam có đầy đủ dư địa để phát triển, đặc biệt là một quốc gia xuất khẩu lớn và nhận lượng kiều hối lên đến 16 tỷ USD mỗi năm. Đây là nền tảng rất tốt để ứng dụng blockchain và stablecoin. Khi Tether tham gia vào thị trường Việt Nam, chúng tôi tin rằng đây là một thị trường đầy tiềm năng và là thị trường mục tiêu.
Chúng tôi hy vọng có thể tham gia vào các tọa đàm để đóng góp kinh nghiệm chuyên môn trong việc cấp phép và quản lý stablecoin, cũng như tư vấn cho các định chế tài chính, ngân hàng, công ty Fintech về cách ứng dụng công nghệ này trong chuyển đổi số, thanh toán xuyên biên giới và token hóa tài sản thật thông qua nền tảng Hadron của chúng tôi.
Cuối cùng, chúng tôi sẵn sàng đồng hành cùng các hiệp hội, trường đại học và trung tâm đào tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường tài sản mã hóa sắp tới tại Việt Nam.
Tether còn một nghiệp vụ khác là đầu tư. Xin hỏi bà Quỳnh, là hiện công ty đã quan tâm tới việc đầu tư vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài sản số, tài sản mã hóa tại Việt Nam chưa? Tether có những thước đo nào để đánh giá một dự án công nghệ tài sản số, tài sản mã hóa?
Bà Lê Vũ Hương Quỳnh: Trong năm vừa qua, Tether đã mở rộng mạnh mẽ lĩnh vực kinh doanh, đầu tư vào nhiều mảng khác nhau. Tính đến hiện tại, danh mục của chúng tôi đã vượt hơn 100 công ty, trong đó có nhiều khoản đầu tư đáng chú ý.
Thứ nhất, Tether đã trở thành cổ đông lớn của câu lạc bộ bóng đá Juventus – thương hiệu thể thao hàng đầu mà hầu như ai cũng biết đến.
Thứ hai, Tether đầu tư 1 tỷ USD vào Blackrock Neurotech – công ty phát triển công nghệ giao diện não – máy tính. Nếu như mọi người từng biết đến Neuralink của Elon Musk, thì Blackrock Neurotech cũng đang theo đuổi những công nghệ tiên phong tương tự. Chúng tôi tin rằng những công nghệ của tương lai chính là lĩnh vực xứng đáng để đầu tư lâu dài.
Thứ ba, Tether rót 780 triệu USD vào Rumble – nền tảng video cạnh tranh trực tiếp với YouTube tại Mỹ. Khi đầu tư, chúng tôi kỳ vọng Rumble sẽ tích hợp ví điện tử cho người dùng, tạo điều kiện để họ tương tác trực tiếp với tài sản mã hóa thông qua nền tảng này.
Bên cạnh đó, Tether còn đầu tư vào AI, giáo dục và nhiều cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, khoảng 80% danh mục vẫn tập trung vào nhóm PSP – các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán. Bởi dù có nhiều cơ hội như chuyển tiền xuyên biên giới hay Token hóa tài sản thực, nhưng nếu không có mạng lưới tiếp cận người dùng và nhà đầu tư, các loại tài sản số sẽ không có kênh phân phối hiệu quả.
Chính vì vậy, chúng tôi ưu tiên đầu tư mạnh vào hệ thống phân phối. Hiện nay, chúng tôi tin rằng Tether là một trong những doanh nghiệp có mạng lưới phân phối rộng nhất thế giới, trải dài từ Mỹ Latinh, châu Phi, MENA đến châu Á. Chúng tôi rót vốn vào các công ty trung gian thanh toán, doanh nghiệp ứng dụng Stablecoin trong thanh toán du lịch, và các tổ chức đang vận hành Sandbox hoặc khung pháp lý thí điểm tại nhiều quốc gia.
Một ví dụ cụ thể là nền tảng Tokenization Platform mang tên Hadron do Tether phát triển. Với Hadron, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể phát hành token dựa trên tài sản thật chỉ trong 5–10 phút. Nhưng khó khăn lớn nhất nằm ở việc tìm nhà đầu tư và xây dựng kênh phân phối để đưa các token đó đến đúng đối tượng quan tâm.
Nhiều doanh nghiệp sau khi Token hóa tài sản đang gặp vướng mắc trong việc tiếp cận nhà đầu tư quốc tế. Vì vậy, các trung tâm tài chính quốc tế tại Hà Nội, TP.HCM hay Đà Nẵng sẽ rất cần khung pháp lý và cơ chế thí điểm cho các sàn giao dịch tài sản Token hóa. Ở nhiều quốc gia, loại tài sản này còn được phân loại như Security Token, mang tính chất gần giống chứng khoán, vì vậy cách phát hành và cách tiếp cận nhà đầu tư rất khác so với tài sản mã hóa thông thường.
Tether hiện vận hành Bitfinex Securities – một sàn giao dịch được đăng ký tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Astana (AIFC), Kazakhstan. Đây là kênh quan trọng giúp chúng tôi đưa các token dựa trên tài sản thật – từ trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản đến ETF – tiếp cận nhà đầu tư toàn cầu.
Một trong những mục tiêu khi Chính phủ tạo lập thị trường tài sản số, tài sản mã hóa là huy động vốn quốc tế. Các diễn giả đánh giá mức độ khả thi của mục tiêu này ra sao?
Ông Nguyễn Thế Vinh: Khi bàn về mục tiêu thu hút dòng vốn ngoại tệ thông qua kênh tài sản mã hóa, câu hỏi quan trọng nhất chính là mức độ khả thi. Và để đánh giá điều đó, trước hết cần hiểu khẩu vị và góc nhìn của nhà đầu tư nước ngoài: họ sẽ quan tâm điều gì trước khi bỏ vốn vào Việt Nam thông qua kênh này?
Theo tôi, có ba yếu tố then chốt.
Yếu tố thứ nhất là khung pháp lý. Nhà đầu tư nước ngoài chỉ rót vốn khi họ cảm nhận được môi trường pháp lý đang được hình thành, rõ ràng và đảm bảo an toàn. Việt Nam hiện nay đang đi đúng hướng và dành sự quan tâm lớn cho việc thiết lập hành lang pháp lý này.
Yếu tố thứ hai là kinh tế vĩ mô. Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển và vừa được nâng hạng từ Frontier lên Emerging Market. Đây là tín hiệu tích cực, mở ra kỳ vọng thu hút vốn ngoại mạnh hơn, không chỉ trong các lĩnh vực truyền thống mà cả với Blockchain.
Yếu tố thứ ba là sức hấp dẫn của thị trường. Chính vì còn rất mới, thị trường Việt Nam mang đến nhiều tiềm năng và nhiều “câu chuyện” để đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến các chủ đề như tài sản thực, token hóa tín chỉ Carbon, hay những câu chuyện khởi nghiệp, công nghệ, công nghiệp đang cần nguồn vốn.
Ba yếu tố này kết hợp lại tạo nên nền tảng quan trọng, giúp mục tiêu thu hút dòng vốn ngoại thông qua kênh tài sản mã hóa trở nên khả thi hơn.
Ông Hà Trung Kiên: Từ góc nhìn của chúng tôi – vừa là đơn vị trực tiếp làm, vừa là nhà đầu tư rót vốn vào các doanh nghiệp – khi đánh giá bất kỳ mô hình kinh doanh hay thị trường nào, luôn có ba yếu tố cơ bản: tiềm năng thị trường, chất lượng đội ngũ và sự hiện diện của các case study thành công.
Với tài sản số, có thể thấy Việt Nam đang nằm trong nhóm năm quốc gia có khối lượng giao dịch lớn nhất thế giới. Đây là một thị trường đầy tiềm năng. Tuy nhiên, chúng ta đang ở giai đoạn Nhà nước xây dựng khung pháp lý.
Bởi vậy, câu hỏi quan trọng là: liệu hành lang pháp lý sắp ban hành có tạo điều kiện cho thị trường phát triển hay không? Mức độ minh bạch có đủ rõ ràng? Và các nhà đầu tư chuyên nghiệp có sẵn sàng tham gia hay không? Đây là những điểm mà các quỹ lớn và nhà đầu tư nước ngoài luôn xem xét trước khi quyết định vào thị trường.
Cơ hội huy động vốn quốc tế là rất lớn. Nhìn vào Ninety Eight và Tether – hai đơn vị đang hoạt động mạnh trong mảng này – có thể thấy họ đánh giá cao tiềm năng của thị trường Việt Nam.
Ninety Eight đã thu hút nhiều quỹ đầu tư quốc tế. Ngay tại SSI, chúng ta cũng thấy rõ mức độ quan tâm của các tổ chức toàn cầu đối với lĩnh vực tài sản số ở Việt Nam. Họ đang chờ đợi để xem những quy định, khung pháp lý sắp tới sẽ được xây dựng ra sao, từ đó quyết định khả năng tham gia vào thị trường.
Ông Nguyễn Trung Trang, Giám đốc sản phẩm SSI Digital: Thực tế, huy động vốn quốc tế là yếu tố mang tính quyết định đối với khả năng thành công của Sandbox. Nếu Sandbox không giải quyết được những vấn đề đó, thì chắc chắn cơ chế này sẽ phải điều chỉnh.
Khi áp dụng tài sản số vào một dự án hay một doanh nghiệp, dòng chảy tài chính trở nên trơn tru hơn, không bị giới hạn bởi biên giới. Đây là lợi thế lớn trong quá trình gọi vốn hoặc làm việc với nhà đầu tư nước ngoài.
Trước đây, nhà đầu tư chuyên nghiệp phải có đầy đủ giấy phép đầu tư tại Việt Nam thì mới có thể rót vốn. Còn bây giờ, nhà đầu tư nhỏ lẻ hay cá nhân ở nước ngoài cũng có thể tham gia. Đó chính là cơ hội lớn nhất để doanh nghiệp Việt tiếp cận vốn quốc tế dễ dàng hơn.
Nhưng song song với cơ hội là hai thách thức lớn đối với các doanh nghiệp và dự án Việt Nam khi gọi vốn nước ngoài trong lĩnh vực tài sản số.
Thứ nhất, chi phí gọi vốn. Dù thủ tục đơn giản hơn, chi phí trong lĩnh vực tài sản số thường cao hơn so với kênh truyền thống.
Thứ hai, uy tín của các doanh nghiệp Việt Nam trong mắt nhà đầu tư quốc tế. Đây là điểm then chốt. Trong nước, hệ sinh thái phát triển mạnh, nhưng khi bước ra thị trường quốc tế, nhiều nhà đầu tư vẫn tỏ ra dè dặt với dự án do người Việt xây dựng. Có người nói thẳng: “Với khung pháp lý hiện tại còn quá chặt, tại sao phải đăng ký ở Việt Nam mà không chọn nơi khác cho thuận lợi hơn?”
Trong bối cảnh đó, Sandbox vẫn là cơ hội lớn nếu doanh nghiệp Việt chứng minh được năng lực thật sự và xây dựng được tệp người dùng đủ mạnh.
Việc thí điểm tài sản số, tài sản mã hóa vào hệ thống tài chính chính thức được Dragon Capital đánh giá cao, khi mở ra nhiều cơ hội mới cho nền kinh tế.
Bộ Tài chính đề xuất mức phạt tới 200 triệu đồng nhằm thiết lập trật tự và tính minh bạch cho thị trường tài sản số, tài sản mã hóa trong giai đoạn thí điểm.
Chuyển đổi blockchain, tài sản số theo nhà đồng sáng lập Ninety Eight sẽ là xu hướng bắt buộc tại Việt Nam, đóng vai trò là "xương sống" cho nền kinh tế mới.
Đây là lúc ngành du lịch cần chuyển từ tư duy tăng trưởng bằng số lượng sang kiến tạo giá trị bền vững để định hình vị thế thương hiệu quốc gia trên bản đồ di sản thế giới.
Theo chuyên gia thuế Lê Văn Tuấn, lời khuyên tốt nhất dành cho hộ kinh doanh là tâm thế. Trong một xã hội thay đổi từng ngày, người làm kinh doanh cần cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận những kiến thức mới.
Khi thuế tối thiểu toàn cầu xói mòn các ưu đãi truyền thống, chính sách thuế mới của Việt Nam được kỳ vọng tạo lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI công nghệ cao.
Với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống thi đua yêu nước và bản lĩnh, khát vọng vươn lên của con người Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm tin tưởng, phong trào thi đua yêu nước sẽ mở ra một giai đoạn phát triển mới, mạnh mẽ hơn, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động, Tập đoàn TH không chỉ khẳng định vị thế của một doanh nghiệp hàng đầu mà còn minh chứng cho một "phẩm hạnh anh hùng" trong kinh doanh và phụng sự đất nước.
Chiều ngày 1/1/2026, tại Lễ công bố tiếp nhận vận hành Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc, Tập đoàn Sun Group chính thức đảm nhận vai trò quản lý, khai thác Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) vừa chính thức mở rộng tài trợ sang lĩnh vực hàng không, với việc tài trợ vốn cho chiếc tàu bay Airbus A321NX mới nhất của hãng hàng không Sun PhuQuoc Airways. NCB cũng sẽ hợp tác để giúp hãng “hàng không nghỉ dưỡng” đầu tư các dự án nâng cấp trọng điểm trong năm 2026.
Khoảnh khắc chuyển giao sang năm mới 2026 được chào đón bằng màn pháo hoa ở nhiều điểm trên cả nước.
Đây là lúc ngành du lịch cần chuyển từ tư duy tăng trưởng bằng số lượng sang kiến tạo giá trị bền vững để định hình vị thế thương hiệu quốc gia trên bản đồ di sản thế giới.
Vietnam Airlines phối hợp với các tỉnh thành tổ chức chương trình chào đón những hành khách đầu tiên năm 2026, đồng hành cùng phát triển du lịch địa phương.
Theo chuyên gia thuế Lê Văn Tuấn, lời khuyên tốt nhất dành cho hộ kinh doanh là tâm thế. Trong một xã hội thay đổi từng ngày, người làm kinh doanh cần cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận những kiến thức mới.
Bước sang năm 2026, chính sách thuế có nhiều thay đổi lớn nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng, minh bạch, thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, đảm bảo quyền lợi của người lao động, người tiêu dùng.