Leader talk

Đâu là động lực để Việt Nam tăng trưởng cao dài hạn?

Quốc Hải - 29/08/2025 08:15 (GMT+7)

Gia tăng năng suất là động lực quan trọng để Việt Nam đạt tăng trưởng cao trong dài hạn, trở thành nước thu nhập cao vào 2045. Nhưng, vẫn còn rất nhiều ‘nút thắt’, là gì?

Số liệu từ nhóm nghiên cứu Trường chính sách công và quản lý Fulbright, so sánh quỹ đạo tăng trưởng của các quốc gia trong khu vực kể từ khi từng nước đạt ngưỡng thu nhập bình quân đầu người 1.000 USD, cho thấy Hàn Quốc, Malaysia đạt sớm nhất với cùng năm 1977, tiếp theo là Thái Lan (1987), Indonesia (1995), Trung Quốc (2000), Việt Nam (2008).

Quỹ đạo tăng trưởng ghi nhận Hàn Quốc, Trung Quốc thuộc khu vực Đông Bắc Á tiếp tục giữ được tốc độ cao. Còn Thái Lan, Indonesia, Malaysia thuộc khu vực Đông Nam Á tăng trưởng chậm hơn. Việt Nam trong 15 năm sau khi đạt ngưỡng thu nhập 1.000 USD thì quỹ đạo tăng trưởng nhỉnh hơn chút, nằm giữa con đường Đông Bắc Á và Đông Nam Á.

Ở thời điểm hiện tại, khi đạt thu nhập bình quân đầu người khoảng 4.000 USD, Việt Nam tiếp tục khẳng định khát vọng trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Vậy quỹ đạo tăng trưởng những năm tiếp theo thế nào?

TS. Vũ Thành Tự Anh. Ảnh: Trọng Tín

TS. Vũ Thành Tự Anh, Trường chính sách công và quản lý Fulbright, đưa ra ba kịch bản tăng trưởng.

Kịch bản đơn giản, nhẹ nhàng nhất là Việt Nam tiếp tục tăng trưởng trung bình trên 6% như những năm qua, thì đến 2045, thu nhập bình quân chỉ khoảng hơn 15.000 USD/người/năm.

Kịch bản cao hơn là tăng trưởng bình quân mỗi năm 7%, thì đến năm 2045, thu nhập đầu người khoảng 19.300 USD, gần chạm ngưỡng dưới của thu nhập cao.

Với cả hai kịch bản này, tới năm 2045, Việt Nam sẽ lớn mạnh hơn một số nước Đông Nam Á, nhưng vẫn thua các nước Đông Bắc Á.

Tuy nhiên, nếu tăng trưởng bình quân đạt con số 10% thì đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thu nhập đầu người sẽ lên tới 33.000USD, bước vào nhóm các nước phát triển ở Châu Á.

Nguồn: Báo cáo của nhóm nghiên cứu Trường chính sách công và quản lý Fulbright.

Nhưng nếu tạm bỏ qua mục tiêu nhiều thách thức để trở lại khiêm tốn với kịch bản tăng trưởng 7%/năm, thì theo ông Vũ Thành Tự Anh, thách thức về tăng năng suất các nhân tố tổng hợp TFP vẫn là rất lớn. Bởi lẽ, theo kịch bản này, giai đoạn 2019-2030, tốc độ tăng TFP phải cỡ 4%.

“Nếu đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hàng năm 10%, thách thức về tăng năng suất là vô cùng lớn ”, chuyên gia từ trường Fulbright nói.

Thách thức số 1 của Việt Nam: Bài toán tăng năng suất

Thưa ông, vì sao bài toán tăng năng suất lại thách thức như vậy, dù bối cảnh Việt Nam đang có ‘bộ tứ trụ cột’ để hỗ trợ kinh tế phát triển?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Không chỉ “bộ tứ trụ cột”, sắp tới chúng ta có thể sẽ có “bộ ngũ, bộ lục, bộ thất” khi mà chúng ta đang có những dự thảo nghị quyết về giáo dục - đào tạo, doanh nghiệp nhà nước và có thể là FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài). Song, điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là, bài toán năng suất đang trở nên thách thức với Việt Nam vì chúng ta bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa dân số.

Cách đây 20 năm, tăng trưởng lực lượng lao động của nước ta là 2% thì giờ chỉ còn 0,5%, và mấy năm nữa sẽ tăng trưởng âm. Già hóa dân số như vậy chỉ có thể được bù đắp bởi tăng trưởng năng suất. Điều này cũng là thách thức số một của Việt Nam.

Ở khía cạnh khác, muốn tăng trưởng dài hạn và bền vững, Việt Nam phải chuyển hóa được cơ cấu của nền kinh tế. Nhìn lại lịch sử từ năm 1960 đến nay, tăng trưởng hai con số là không hề hiếm ở khu vực Đông Bắc Á nhưng lại rất hiếm với các nước Đông Nam Á. Nhưng đấy là tăng trưởng cao ở một vài năm cụ thể.

Còn để tăng trưởng 10%/năm một cách liên tục thì trong khu vực là gần như chưa có tiền lệ. Đó là bởi quy luật một nền kinh tế khi đạt mức thu nhập càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng chậm lại.

Nhìn vào lịch sử tăng trưởng của các nước ở thời điểm có cùng mức thu nhập bình quân đầu người với Việt Nam hiện nay, khoảng 4.000 USD, thì chỉ có Singapore và Hàn Quốc là tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế 10%.

Tất cả dẫn chứng trên cho thấy, mục tiêu chúng ta đặt ra là cực kỳ tham vọng, mà nếu không có những thay đổi khác biệt một cách cơ bản so với những gì đang làm hiện nay, thì Việt Nam sẽ chỉ tiếp tục chìm đắm trong mô hình Đông Nam Á chứ chưa thể như Đông Bắc Á.

Nguồn: Báo cáo của nhóm nghiên cứu Trường chính sách công và quản lý Fulbright.

Từ kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực, đâu là yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng năng suất? Vai trò của doanh nghiệp và nhà nước ở đây là gì, thưa ông?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Nếu nhìn vào giai đoạn có sự tăng đột biến và nhanh về năng suất ở một số quốc gia trong khu vực, có thể thấy có những yếu tố chính.

Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu. Nhìn một quốc gia chuyển từ nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng năng suất trung bình khoảng 25% lên công nghiệp với tốc độ tăng trưởng 8-10%, thậm chí 12-15%, thì tất cả các quốc gia tăng trưởng cao đều xuất phát trong giai đoạn chuyển đổi từ nông nghiệp, nông dân, nông thôn chuyển sang công nghiệp, đô thị và những người lao động cổ cồn (chỉ nhân viên văn phòng, làm việc bàn giấy và thường mặc vest, áo sơ mi). Đây là điểm quan trọng số 1, hơn hẳn những chuyện thậm chí về thể chế, công nghệ.

Nhân tố thứ 2, là thay đổi về công nghệ. Sau khi thay đổi về cơ cấu thì công nghệ hiển nhiên là rất quan trọng.

Nhân tố thứ 3 là thể chế. Nếu thể chế mà kém thì doanh nghiệp có muốn đi tới, muốn đầu tư vào công nghệ nhưng không có sự hỗ trợ và thông thuận của thể chế thì không thể làm được.

Đây chính là 3 nhân tố quan trọng nhất. Nhưng vai trò của doanh nghiệp ở đây là gì? Theo tôi, vai trò của doanh nghiệp là vận dụng cả 3 nhân tố này để chuyển hóa hoạt động kinh tế của mình. Bởi lẽ, hoạt động kinh tế không xảy ra ở Bộ Tài chính, cũng không xảy ra ở các cấp chính quyền địa phương mà diễn ra ở chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp chính là nơi tạo ra giá trị kinh tế lớn nhất của đất nước. Nhìn vào GDP, có thể thấy, 90% giá trị kinh tế được tạo ra từ các doanh nghiệp.

Chính vì vậy, 3 yếu tố trên phải được chuyển hóa vào doanh nghiệp. Nếu công nghệ không tới được doanh nghiệp, nếu như thể chế ràng buộc doanh nghiệp, nếu như chuyển đổi cơ cấu không giúp doanh nghiệp nhìn thấy được cơ hội, ví dự như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, AI… thì rõ ràng rất khó để tăng năng suất.

Vì vậy, vai trò của Nhà nước là phải có chính sách khuyến khích để thúc đẩy doanh nghiệp đi vào những lĩnh vực thúc đẩy năng suất.

“Đòn bẩy” khả thi nhất

Theo ông, đâu là “đòn bẩy” năng suất khả thi nhất cho giai đoạn 2025-2030 trong nhóm các yếu tố TFP, vốn con người và công nghệ?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Năng suất vẫn là nhân tố quyết định tốc độ tăng trưởng của quốc gia. Vì vậy, bất kỳ chiến lược tăng tốc về tăng trưởng nào cũng đều phải phụ thuộc vào năng suất. Ở Việt Nam, tốc độ tăng trưởng năng suất nếu nhìn vào TFP thông thường chỉ dao động từ 2,5%-3%, trong khi đó, để tăng trưởng GDP từ 9%-10% thì tốc độ tăng trưởng TFP theo tính toán của chúng tôi phải đạt 5,6% trở lên.

Khi một quốc gia đạt thu nhập càng cao thì có thiên hướng tốc độ tăng trưởng càng chậm lại. Vì sao? Vì những cơ hội để tăng năng suất đã không còn. Nói ví von như kiểu “Hoa quả tầm thấp đã bị hái hết”, vì vậy càng về sau, việc tăng năng năng suất càng trở nên khó khăn. Đây cũng là lý do các quốc gia càng phát triển thì tăng trưởng càng thấp xuống. Đây là quy luật chung về mặt kinh tế.

Nguồn: Báo cáo của nhóm nghiên cứu Trường chính sách công và quản lý Fulbright.

Quay trở lại Việt Nam, yếu tố gì có thể giúp Việt Nam tăng trưởng cao trong thời gian tới?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Yếu tố đầu tiên hiển nhiên là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế. Tôi lấy ví dụ, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ đô thị hóa thấp, chỉ khoảng 37-38%. Nếu chúng ta tăng được tốc độ đô thị hóa này thì đây chính là nơi tạo ra năng suất cao nhất so với các vùng miền khác, đặc biệt so với vùng nông thôn hoặc ven đô. Thực sự, đô thị là nơi tập trung về tài chính, cơ sở hạ tầng, nhân lực… nói chung là những yếu tố được đánh giá là tốt nhất của đất nước để hỗ trợ tăng trưởng năng suất. Vì vậy, khi đô thị tăng lên thì sẽ kéo theo tăng năng suất.

Mục chuyển đổi thứ 2 cũng rất quan trọng là chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp. Việt Nam trong 30 năm qua tăng trưởng một phần rất lớn là nhờ chuyển lao động từ nông thôn, nông nghiệp sang đô thị, công nghiệp. Tuy nhiên, dư địa này càng ngày càng giảm đi vì tỷ lệ nông nghiệp hiện nay chỉ còn khoảng 12% trong GDP, mặc dù còn dư địa nhưng không còn dồi dào như trước kia (ở giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi mới, tỷ lệ này lên tới 50-60%).

Chuyển đổi thứ 3 là chuyển đổi về lao động, trong đó quan trọng nhất là chuyển đổi về kỹ năng. Tức là từ lực lượng lao động có kỹ năng thấp phải được nâng cấp chất lượng. Nâng cấp không chỉ ở lực lượng lao động ở nhà máy, công xưởng mà là lao động tập trung. Bởi lẽ, trước đây Việt Nam có lợi thế về lao động dồi dào giá rẻ nhưng đã dần mất đi.

Vì vậy, chúng ta phải nâng cấp để có lao động tầm trung và tầm cao, từ đó mới nâng cao được năng suất nhờ việc các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam tìm kiếm nguồn lao động đó.

Có thể thấy, trong thời gian rất dài nguồn lao động “chạy” theo vốn, nhưng ở thời điểm này rõ ràng “vốn đang chạy theo người lao động”. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đến những nơi tìm được nguồn lao động có chất lượng cao và chi phí cạnh tranh. Vì lẽ đó, Việt Nam phải duy trì được chi phí cạnh tranh này, tránh tình huống lực lượng lao động của Việt Nam có kỹ năng chưa đủ cao nhưng chi phí đã vượt quá trong mối tương quan với chất lượng.

Yếu tố thứ 4 - rất quan trọng - là Việt Nam phải có những động lực mới. Động lực mới này có thể đến từ bên trong hoặc từ bên ngoài.

Động lực đến từ bên ngoài có thể là Việt Nam khai thác được các thị trường mới, bảo vệ được các thị trường cũ. Cuộc chiến thương mại vừa qua đã chỉ ra rất rõ, giả sử chúng ta bị chặn đứng ở thị trường Mỹ thì dứt khoát tăng trưởng của Việt Nam sẽ suy giảm nghiêm trọng. Vì vậy, Việt Nam phải bảo vệ được thị trường này và phát triển được thị trường mới. Đây cũng là lý do nằm phía sau nỗ lực về hội nhập của Việt Nam một cách tích cực và chủ động trong suốt mấy chục năm trở lại đây.

Động lực từ bên trong là Việt Nam phải tìm kiếm các “động cơ” mới. Giống như kiểu một chiếc xe ô tô, muốn chạy tốt hơn thì phải có động cơ tốt hơn, có tốc độ tối đa, chạy an toàn hơn… Các “động cơ” mới của Việt Nam hiện nay đã được chỉ ra trong rất nhiều văn kiện mới đây, gồm: khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số; sử dụng kinh tế tư nhân và hiển nhiên kinh tế tư nhân phải song hành với 2 khu vực còn lại là FDI và doanh nghiệp nhà nước; chuyển đổi công nghiệp - chuỗi giá trị phải nâng cấp, nâng cấp kỹ năng của người lao động; hệ thống thể chế và cơ sở hạ tầng, thể chế là cơ sở hạ tầng mềm, còn các cơ sở hạ tầng cứng như điện, đường, cao tốc, sân bay, bến cảng, cơ sở hạ tầng về thông tin, dữ liệu… ngày càng quan trọng, tạo cơ sở nền tảng cho các yếu tố khác. Đây cũng là bức tranh chung về tăng trưởng năng suất ở Việt Nam.

Theo ông, đâu là thể chế "đắt đỏ" nhất đối với bài toán tăng năng suất?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Tôi đánh giá yếu tố quan trọng nhất là thực thi, phải làm sao chuyển được các thiết kế chính sách này đi vào thực tiễn. Bởi lẽ, từ trước đến nay, đây vẫn là những “nút thắt” và những “nút thắt” này chỉ có thể khắc phục được nếu như có một lực lượng lao động công chức có năng lực, dấn thân, dám dấn thân và được bảo vệ, được đãi ngộ một cách xứng đáng.

Rất nhiều chính sách của chúng ta đúng về chiến lược, định hướng nhưng đến khâu thực thi lại tắc. Tất cả các chính sách được đánh giá là “bộ tứ trụ cột” hiện nay đều xuất sắc cả, nhưng vấn đề còn lại là thực thi thế nào? Đó chính là nút thắt lớn nhất.

Thực tế, việc thực thi là một “điểm nghẽn” lớn của kinh tế Việt Nam trong rất nhiều năm trở lại đây.

Trong một hội nghị lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, trí thức tiêu biểu góp ý cho dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 mới đây, tôi có một bình luận rằng: "Người ta vẫn nghe nói rằng cán bộ dám nghĩ, dám làm, nhưng có lẽ là dám nghĩ rất nhiều nhưng dám làm rất ít. Bởi vì, họ có được bảo vệ không? Làm mà gây hậu quả nghiêm trọng thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm đầu tiên".

Tức là, khuyến khích của Việt Nam đi ngược đối với cán bộ công chức. Nếu anh làm rất xuất sắc, rất đổi mới, rất sáng tạo, rất năng nổ thì có thể anh sẽ chịu rủi ro rất cao. Lợi ích thì chia đều còn rủi ro thì anh sẽ chịu 100%, thế thì tại sao tôi phải cố gắng?

Rõ ràng, vấn đề ở đây là tôi không lo nhiều về năng lực của con người Việt Nam, tôi có một niềm tin con người Việt Nam có đầy đủ năng lực, thậm chí là năng lực rất tốt. Tôi hay nói đùa rằng, nếu anh Ngô Bảo Châu ở Việt Nam thì sẽ không bao giờ “phiêu” được cả, anh Ngô Bảo Châu phải ra nước ngoài, anh Đàm Thanh Sơn phải ra nước ngoài, đội ngũ nhân tài Việt Nam phải ra nước ngoài vì “mảnh đất” đó đủ dưỡng chất, đủ điều kiện thuận lợi để họ trở thành “đại thụ”. Còn nếu ở Việt Nam thì chắc cũng chỉ là một thầy giáo bình thường.

Ở đây tôi không nói chê nhà giáo hay gì, nhưng để nói rằng, hạt giống của Việt Nam rất tốt nhưng môi trường chưa đủ điều kiện để những hạt giống đó phát triển thành đại thụ.

Tức là tôi không lo về năng lực của con người Việt Nam ngay ở ngoài hay trong hệ thống, nhưng tôi lo về cơ chế khuyến khích, cơ chế bảo vệ họ khi họ dấn thân và đó chính là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công của Hàn Quốc, của Nhật Bản, Đài Loan và gần đầy hơn là của Trung Quốc, Singapore. Họ có một đội ngũ quản trị đất nước tinh hoa, được đào tạo cực kỳ bài bản, có tinh thần dấn thân và được bảo vệ, được đãi ngộ xứng đáng.

Nói chung rằng, dám nghĩ là một chuyện, dám làm là một chuyện khác, và làm có được hay không và làm được hay không được, làm có được bảo vệ hay không là cả một chuỗi. Nếu không có cả một chuỗi này trong hệ thống thì sẽ rất khó bứt phá như mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8-10% đề ra. Bởi vì cuối cùng, chính những người này sẽ quyết định chính sách như thế nào, chính sách được thực thi thế nào, chính họ sẽ tạo điều kiện hay cản trở doanh nghiệp phát triển.

Một điều nữa tôi muốn nói thêm, thực ra việc triển khai chính sách chú trọng rất nhiều ở các địa phương. Rất nhiều chính sách từ trung ương phải xuống địa phương mới triển khai được, đâu có triển khai ở các bộ, ngành. Do đó, cuối cùng chúng ta phải nâng cấp quản trị ở địa phương lên. Trong rất nhiều trường hợp, các thảo luận chỉ ở trung ương mà quên mất việc các địa phương mới là nơi “thực chiến”, tiếp xúc trực tiếp với doanh nghiệp. Đây là một vấn đề rất quan trọng cần suy ngẫm.

Xin cảm ơn ông.

***

Bài viết thuộc chuyên đề "Từ Độc lập đến Thịnh vượng" do TheLEADER triển khai nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh 2/9.

Bài toán đánh đổi trong cuộc chiến chống dịch Covid-19

Bài toán đánh đổi trong cuộc chiến chống dịch Covid-19

Leader talk -  5 năm
TS. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Trường Chính sách công và quản lý Fulbright nhận định, nếu vì tiếc một vài điểm phần trăm tăng trưởng GDP mà xem nhẹ hay chấm dứt các biện pháp chống dịch quá sớm thì Việt Nam có thể phải trả giá đắt.
Ý kiến ( 0)
Bài toán đánh đổi trong cuộc chiến chống dịch Covid-19

Bài toán đánh đổi trong cuộc chiến chống dịch Covid-19

Leader talk -  5 năm

TS. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Trường Chính sách công và quản lý Fulbright nhận định, nếu vì tiếc một vài điểm phần trăm tăng trưởng GDP mà xem nhẹ hay chấm dứt các biện pháp chống dịch quá sớm thì Việt Nam có thể phải trả giá đắt.

Liệu Covid 19 có gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu?

Liệu Covid 19 có gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu?

Leader talk -  5 năm

Khi các nền kinh tế lớn 'viêm phổi cấp', cả thế giới sẽ lao đao.

TS. Vũ Thành Tự Anh: Triển vọng kinh tế Việt Nam 2019 không quá tươi sáng

TS. Vũ Thành Tự Anh: Triển vọng kinh tế Việt Nam 2019 không quá tươi sáng

Leader talk -  6 năm

Có 3 lý do khiến chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh bi quan về triển vọng kinh tế năm 2019: nền kinh tế thế giới sẽ suy giảm, tác động khó đoán của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đến Việt Nam và tình hình kinh tế - xã hội nhiều điểm nghẽn của Việt Nam.

Đường dài Độc lập: 1945-1986, nền tảng để Đổi mới

Đường dài Độc lập: 1945-1986, nền tảng để Đổi mới

Leader talk -  1 ngày

Hơn bốn thập niên chiến tranh và kiến thiết kể từ Độc lập năm 1945 đã tôi luyện bản lĩnh, tạo nền tảng để Đất nước bước vào giai đoạn Đổi mới đầy cam go.

Giá nhà cao, dự án mới dồn dập: Dòng tiền thông minh sẽ đổ về đâu?

Giá nhà cao, dự án mới dồn dập: Dòng tiền thông minh sẽ đổ về đâu?

Leader talk -  2 ngày

Ông Nguyễn Văn Long, Phó tổng giám đốc Mai Việt Land cho rằng, thị trường bất động sản năm 2025 không còn sân chơi của những nhà đầu cơ ngắn hạn. Trong bối cảnh mới, một tư duy mới trong đầu tư bất động sản đang ngày càng được khẳng định, nơi những sản phẩm có giá trị sử dụng thực, dễ dàng khai thác cho thuê, tạo ra dòng tiền bền vững lên ngôi.

CT Group đang ấp ủ điều gì phía sau chiến lược máy bay không người lái?

CT Group đang ấp ủ điều gì phía sau chiến lược máy bay không người lái?

Leader talk -  2 ngày

Sau một thập kỷ nghiên cứu, đầu tư vào khoa học công nghệ, CT Group đang dần lộ diện tham vọng chiếm lĩnh kinh tế không gian tầm thấp.

Hai thập kỷ 'mở đường' năng lượng tái tạo của SolarBK

Hai thập kỷ 'mở đường' năng lượng tái tạo của SolarBK

Leader talk -  3 ngày

Không ồn ào mà chọn lối đi riêng, SolarBK không chỉ khẳng định được vị thế mà luôn là người tiên phong trên thị trường năng lượng tái tạo sau hai thập kỷ.

Doanh nhân kiến quốc trong kỷ nguyên mới

Doanh nhân kiến quốc trong kỷ nguyên mới

Leader talk -  4 ngày

Khi đội ngũ doanh nhân mang trong mình khát vọng dân tộc, tư duy toàn cầu và tinh thần phụng sự, họ không chỉ làm giàu cho bản thân, mà còn kiến tạo vận hội mới cho đất nước.

Đâu là động lực để Việt Nam tăng trưởng cao dài hạn?

Đâu là động lực để Việt Nam tăng trưởng cao dài hạn?

Leader talk -  4 phút

Gia tăng năng suất là động lực quan trọng để Việt Nam đạt tăng trưởng cao trong dài hạn, trở thành nước thu nhập cao vào 2045. Nhưng, vẫn còn rất nhiều ‘nút thắt’, là gì?

SSI tiếp tục kế hoạch tăng vốn thêm khoảng 4.000 tỷ đồng

SSI tiếp tục kế hoạch tăng vốn thêm khoảng 4.000 tỷ đồng

Tài chính -  9 phút

Đây là bước đi chiến lược giúp SSI củng cố tiềm lực tài chính và nâng sức cạnh tranh với vị thế là doanh nghiệp chứng khoán có vốn hóa lớn nhất trên sàn.

Gần 90% môi giới bất động sản không có chứng chỉ hành nghề: 'Khoảng trống' nan giải của thị trường

Gần 90% môi giới bất động sản không có chứng chỉ hành nghề: 'Khoảng trống' nan giải của thị trường

Bất động sản -  19 phút

Kết quả của việc thiếu đào tạo là một đội ngũ môi giới bước vào nghề với nền tảng kiến thức mỏng, coi đây là một trải nghiệm ngắn hạn, kéo theo tỷ lệ biến động nhân sự cao kỷ lục.

TH true MILK 'trình làng' ứng dụng blockchain truy xuất nguồn gốc sản phẩm

TH true MILK 'trình làng' ứng dụng blockchain truy xuất nguồn gốc sản phẩm

Phát triển bền vững -  10 giờ

Kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng 8, Quốc khánh 2/9, Tập đoàn TH hiện diện nổi bật tại khu trưng bày “Khởi nghiệp kiến quốc”, Trung tâm Triển lãm Việt Nam, Hà Nội, từ 28/8 đến hết ngày 5/9/2025. Tại sự kiện, lần đầu tiên Tập đoàn TH trình diễn công nghệ truy xuất nguồn gốc sản phẩm giúp theo dõi chi tiết quy trình 12 bước sản xuất sữa tươi sạch TH true MILK.

Cả triệu người sắp đổ về đây dịp Quốc khánh để đu trend “80 năm có một”, bạn đã biết chưa?

Cả triệu người sắp đổ về đây dịp Quốc khánh để đu trend “80 năm có một”, bạn đã biết chưa?

Nhịp cầu kinh doanh -  10 giờ

Giới trẻ đang rần rần “chốt kèo” một điểm hẹn duy nhất: Triển lãm “80 năm hành trình độc lập - tự do - hạnh phúc”. Không chỉ gây sốt với menu trải nghiệm độc nhất vô nhị, tổ hợp triển lãm Top 10 thế giới tại Đông Anh, Hà Nội còn mang đến background triệu like cùng cơ hội nhận quà hấp dẫn. Đừng để mình “lạc nhịp” giữa trend hot nhất dịp Quốc khánh bạn nhé!

Hội nghị quốc tế 'Khai mở thị trường vốn xanh quốc tế': Cơ hội kết nối và đầu tư

Hội nghị quốc tế 'Khai mở thị trường vốn xanh quốc tế': Cơ hội kết nối và đầu tư

Nhịp cầu kinh doanh -  10 giờ

Hội nghị quốc tế với chủ đề “Khai mở thị trường vốn xanh quốc tế – Thúc đẩy phát triển bền vững và tài chính toàn diện tại Việt Nam” sẽ diễn ra tại Tea Resort Prenn, TP. Đà Lạt vào ngày 5/9/2025.

VAMA: Đa phần ô tô hiện hành không đáp ứng tiêu chuẩn dự thảo mới

VAMA: Đa phần ô tô hiện hành không đáp ứng tiêu chuẩn dự thảo mới

Phát triển bền vững -  15 giờ

Dự thảo quy định tiêu thụ nhiên liệu trung bình là 4,83 lít/100km cho xe ô tô đến năm 2030 được VAMA cho rằng có thể khiến 96% mẫu ô tô xăng phải ngừng bán.