Trường Harvard thu hơn 60 triệu USD từ bản quyền case-study
Hường Hoàng
Thứ hai, 26/12/2022 - 08:36
Không nhiều người biết rằng, học liệu của các trường đại học cũng là những tài sản trí tuệ có tiềm năng tạo ra doanh thu lớn. Trong đó, Trường Kinh doanh Harvard là một trong những trường đại học nổi tiếng với hoạt động kinh doanh bản quyền học liệu, với doanh thu hàng triệu USD mỗi năm.
Giảng dạy dựa trên các case-study là phương pháp điển hình của Trường Kinh doanh Harvard (Ảnh: HBS)
Phương pháp giáo dục thực nghiệm cao
Hầu hết các trường kinh doanh đều tuyên bố rằng họ là những trường học có mô hình giáo dục sáng tạo, có lò đào tạo doanh nhân ngay trong trường với các môn học kích thích tư duy. Tuy vậy, phần lớn các trường đều có những công cụ giảng dạy mang nặng tính lí thuyết và gần như không thay đổi trong vòng một thế kỷ qua.
Không giống như nhiều trường kinh doanh khác, Trường Kinh doanh Harvard (HBS) tập trung vào lối giáo dục thực nghiệm thông qua phương pháp nghiên cứu những tình huống thực tế về kinh doanh, tóm tắt các sự kiện lớn trong nước và quốc tế (case-study). Đây là phương pháp được trường phát triển và sử dụng từ năm 1920 đến tận ngày nay.
Khi học theo phương pháp này, học sinh sẽ phải suy nghĩ độc lập về các tình huống, thảo luận, phát hiện giải pháp, bảo vệ quan điểm của bản thân, và cuối cùng tự khám phá ra những khái niệm mới.
Trọng tâm của phương pháp này đó là học sinh không được cung cấp "câu trả lời" hoặc giải pháp cho những vấn đề hiện tại. Thay vào đó, giống như thành viên của các hội đồng quản trị, giám đốc điều hành hoặc người quản lý, sinh viên buộc phải phân tích tình huống và tìm giải pháp trong hoàn cảnh không có đầy đủ kiến thức về sự kiện cũng như các phương hướng giải quyết.
Ngoài việc được tiếp cận kiến thức thông qua các giảng viên và sách giáo khoa, phương pháp nghiên cứu tình huống đem đến cho sinh viên cơ hội suy nghĩ và hành động như những nhà quản lý.
Kể từ năm 1924, phương pháp ngiên cứu tình huống thực tế đã trở thành công cụ giảng dạy hiệu quả và được áp dụng rộng rãi nhất ở HBS. Ngày nay, phương pháp này được sử dụng trong hầu hết các khóa học quản trị kinh doanh và quản trị thực hành tại đây, cũng như tại hàng trăm trường kinh doanh hàng đầu khác trên khắp thế giới.
Doanh thu khủng từ case-study
Tại Trường Kinh doanh Harvard, nơi tạo ra và phổ biến phương pháp này, case-study đã trở thành nguồn thu lớn của họ. Nhà xuất bản Harvard Business Publishing (HPB) cho biết họ đang cung cấp tài liệu cho khoảng hơn 4.000 trường trên toàn cầu, chiếm đến 80% số case-study được dùng trên thế giới.
Mỗi năm, các giảng viên của HBS tạo ra khoảng 225 case-study mới. Trong đó, với mỗi case-study, các giảng viên tốn khoảng 160 giờ để nghiên cứu và viết. Theo Washington Post, năm 2021, trường đã bán được 15,3 triệu case-study, với doanh thu từ bản quyền lên đến 59 triệu USD. Khách hàng của HBS tiếp tục là những trường kinh doanh khác trên toàn cầu.
HBP cũng bán một số công cụ đi kèm nhằm hỗ trợ việc giảng dạy cho các giảng viên, như từ khóa có thể viết lên bảng. Quy mô khổng lồ của mảng xuất bản đã giúp HBS duy trì vị thế thống trị trên thị trường case study. Trong khi đó, cái tên thứ hai trên thị trường case- study là Darden Business Publishing chỉ bán được chưa đầy 700.000 bản, thấp hơn rất nhiều với con số 12 triệu bản của HBS vào năm 2014.
Các nhà xuất bản đang cố đa dạng và hiện đại hóa nội dung của tài liệu này. Trong thập niên 70, các chủ đề trong các case-study "gần như chỉ về nam giới và được thiết kế dành riêng cho thị trường Mỹ". Hiện nay, HBS đang cố gắng đưa ra những tình huống phản ánh môi trường kinh doanh hiện đại hơn và quốc tế hơn. Họ cũng lên kế hoạch nâng tỷ lệ tình huống, trong đó phụ nữ đưa ra lên 20% và tích hợp thêm các yếu tố video, Internet trong những trường hợp này.
Việt Nam đã ký kết hàng loạt các hiệp định thương mại nhằm thúc đẩy cải cách và thực thi luật sở hữu trí tuệ. Nhưng trên thực tế, ở Việt Nam, hoạt động này còn chậm chạp và có nhiều thiếu sót. Vậy, liệu vụ kiện giữa chú sói Wolfoo của Việt Nam và lợn Peppa Pig của Anh gần đây có góp phần làm thay đổi điều đó?
Bao năm qua, hàng giả, hàng nhái vẫn là một vấn nạn gây bức xúc trong dư luận và làm đau đầu các nhà quản lý. Bên cạnh công tác quản lý, xử lý của các nhà chức trách, các doanh nghiệp, nhà phân phối cần bảo vệ quyền lợi của chính mình thông qua hoạt động sở hữu trí tuệ.
Năm 1950, Hàn Quốc là một trong nhưng nước nghèo nhất thế giới. Và sau 72 năm, Hàn Quốc đã trở thành quốc gia có GDP cao thứ 4 châu Á và cao thứ 10 trên thế giới. Nhiều yếu tố đã đóng góp vào sự thành công của Hàn Quốc, và sở hữu trí tuệ là một yếu tố quan trọng trong số đó.
Có nhu cầu lớn và đa dạng đối với những sản phẩm lợi thế của Việt Nam, châu Phi được đánh giá là thị trường tiềm năng của các doanh nghiệp Việt. Một trong những vấn đề các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng để có thể thâm nhập hiệu quả vào thị trường châu Phi là quản lý tài sản trí tuệ.
Thương vụ hợp tác giữa KBC với The Trump Organization chỉ đơn thuần là bước đi trong ngành bất động sản hay còn những toan tính khác của doanh nghiệp ông Đặng Thành Tâm?
Người được coi là cầu nối trong các dự án liên doanh, hợp tác quốc tế là ông Tan Bo Quan vừa được bầu làm chủ tịch hội đồng quản trị Tập đoàn Bamboo Capital.
Logistics xanh không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc, nếu không chuyển đổi doanh nghiệp ngành này sẽ bị loại khỏi “sân chơi” toàn cầu.
Các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang tăng mức độ quan tâm và mở rộng đầu tư tại Việt Nam, tập trung vào công nghệ cao, năng lượng và chuỗi cung ứng, đánh dấu một bước tiến mới.
Các chuyên gia tài chính đều chung góc nhìn tích cực về sự cải thiện chất lượng tài sản ngân hàng cùng sự hồi phục chung của nền kinh tế, đặc biệt với những tháo gỡ ở nhóm ngành bất động sản.