Leader talk

Thoát 'bẫy' thu nhập trung bình, Việt Nam cần mô hình phát triển mới

Quốc Hải Thứ hai, 26/01/2026 - 08:24
Nghe audio
0:00

Chuyên gia kinh tế Huỳnh Thanh Điền nhận định, Việt Nam hiện chưa rơi vào bẫy thu nhập trung bình vì chưa chạm ngưỡng. Nhưng nếu tiếp tục mô hình hiện tại, khả năng rơi vào quỹ đạo của Thái Lan, Philippines là rất cao.

Giai đoạn 2026 - 2030 được coi là “cửa sổ chiến lược” để Việt Nam bứt phá lên nhóm nước có công nghiệp hiện đại và tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Trao đổi với TheLEADER, TS. Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế nhấn mạnh rằng, động lực tăng trưởng mới không nằm ở khẩu hiệu “công nghệ - đổi mới sáng tạo”, mà ở khả năng tái cấu trúc thể chế, mở không gian phát triển, kích hoạt tư nhân, kéo dòng vốn đi vào sản xuất và tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo ông, trong hơn 20 năm qua, Việt Nam dựa mạnh vào vốn đầu tư nước ngoài (FDI) làm động lực tăng trưởng, trong đó các công đoạn chủ yếu là: lắp ráp, gia công, sản xuất theo chỉ định, tận dụng lao động giá rẻ và đất đai giá rẻ. Mô hình này phù hợp ở giai đoạn cất cánh nhưng không đủ tạo ra năng suất biên tăng dần, dẫn đến giới hạn phát triển.

Từ đó, vị chuyên gia này nhấn mạnh rằng, Việt Nam chưa rơi vào bẫy thu nhập trung bình, nhưng nguy cơ là có thật. Bởi lẽ, bẫy thu nhập trung bình không xảy ra khi quốc gia tăng trưởng chậm, mà khi tăng trưởng "không thể đổi chất" sau giai đoạn công nghiệp hóa ban đầu. Trong khu vực Đông Nam Á, đã có ít nhất bốn nền kinh tế mắc kẹt hơn một thập kỷ.

“Việt Nam chưa rơi vào bẫy, vì chưa chạm ngưỡng. Nhưng nếu tiếp tục mô hình hiện tại, khả năng rơi vào quỹ đạo của Thái Lan, Philippines là rất cao”, ông nhìn nhận.

TS. Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế. Ảnh: FBNV

Giai đoạn 2026 - 2030: cửa sổ chuyển hóa cuối cùng

Giai đoạn 2026 - 2030 là thời điểm "vàng" để Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình thấp. Ngoài các ngành truyền thống, đâu là những "động lực mới" đột phá đóng vai trò xương sống giúp nước ta trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại vào năm 2030, thưa ông?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Đầu tiên phải nhìn nhận một thực tế, cấu trúc thời gian của phát triển Việt Nam có hai pha: 2026 - 2030 là giai đoạn chuyển hóa mô hình và từ 2030 - 2045 là giai đoạn tăng tốc và tích lũy năng lực cạnh tranh. Nếu “chậm chân” ở pha đầu, giai đoạn sau sẽ chỉ là kéo dài tăng trưởng theo chiều rộng với năng suất thấp và thiếu năng lực công nghệ.

Thực tế, bẫy thu nhập trung bình là tình trạng nhiều quốc gia rơi vào khi tăng trưởng dựa trên mở rộng sản xuất và lao động giá rẻ nhưng không thể chuyển sang mô hình tạo giá trị gia tăng cao hơn. Trong khu vực Đông Nam Á đã có khoảng bốn nền kinh tế rơi vào tình trạng này suốt hơn một thập kỷ và chưa thoát ra.

Hiện nay, Việt Nam hiện vẫn nằm ở nhóm thu nhập trung bình thấp nên chưa rơi vào “bẫy”, nhưng nếu tiếp tục tăng trưởng theo quán tính hiện tại thì nguy cơ là rất lớn. Việc Việt Nam đang tiến sát trình độ của Thái Lan là dấu hiệu cho thấy dư địa tăng theo chiều rộng đang dần cạn và nếu không kịp chuyển mô hình, quỹ đạo phát triển sẽ lặp lại các quốc gia đi trước.

Một trong những nguyên nhân khiến các nước bị “mắc kẹt” là mô hình thu hút FDI dựa trên công nghệ cũ. Bởi lẽ, nhiều tập đoàn đa quốc gia thường chuyển các công đoạn đã khấu hao hoặc chưa thu hồi vốn sang khu vực ASEAN. Giai đoạn đầu giúp tăng trưởng nhanh, nhưng khi hạ tầng sản xuất và lao động đạt ngưỡng, năng suất không tiếp tục cải thiện, dẫn tới rơi vào bẫy. Việt Nam thời gian qua đi đúng quỹ đạo đó, nên khả năng bị mắc kẹt là có thật.

Thành tựu đạt được, đặc biệt từ cú cải cách 2025, đã tạo đủ đà và lực để Việt Nam bước vào giai đoạn tăng tốc 2026 với nền tảng vững và tầm nhìn dài hạn.

TS. Huỳnh Thanh Điền

Chúng ta phải mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật rằng, khẩu hiệu “phát triển khoa học công nghệ” chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp là những chủ thể ứng dụng công nghệ thực sự có động lực và điều kiện để đầu tư. Trong khi đó, phần lớn các quốc gia bị kẹt đều không làm được điều này vì mô hình tăng trưởng không tạo ra động lực nội sinh. Điểm khác biệt của Việt Nam là “chưa rơi trọn vẹn” vào bẫy nên vẫn còn dư địa để chuyển đổi. Những nước đã rơi vào bẫy sớm hơn thì gần như đã lấp đầy không gian công nghiệp nên rất khó tái cấu trúc.

Có nghĩa là nếu chỉ chạy theo khẩu hiệu “đổi mới sáng tạo” sẽ không đủ tạo bước nhảy, thưa ông?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Trong nhiều năm, “khoa học công nghệ” xuất hiện dày đặc trong các nghị quyết, chiến lược và diễn đàn chính sách như một trong những trụ cột quyết định năng suất và tăng trưởng dài hạn của Việt Nam. Tuy nhiên, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng: phát triển khoa học công nghệ là nói cho vui. Công nghệ là của doanh nghiệp. Không có doanh nghiệp chịu đầu tư thì chuyển hóa không xảy ra.

Đây chính là “điểm mù” của chiến lược chuyển đổi: Việt Nam đang đặt mục tiêu ở phía công nghệ, nhưng công cụ thực thi lại nằm ở doanh nghiệp và hai vế này chưa thực sự gặp nhau.

Nói cách khác, hiện tồn tại một lệch pha giữa mục tiêu và chủ thể hành động: mục tiêu củ chúng ta là công nghệ cao, năng suất cao, giá trị gia tăng cao nhưng chủ thể thực thi lại là các doanh nghiệp. Công nghệ không được ban hành bằng nghị quyết, cũng không được triển khai trong phòng họp, nó chỉ được hiện thực hóa khi doanh nghiệp quyết định rót vốn, chấp nhận rủi ro, phát triển sản phẩm, xây dựng thị trường và cạnh tranh.

Khách hàng nước ngoài tìm đến Công ty Dony để ký kết đơn hàng may mặc. Ảnh: Quốc Hải

Nhưng, một doanh nghiệp chỉ đầu tư công nghệ khi có đủ 5 điều kiện tối thiểu.

Thứ nhất, thể chế thuận lợi: không treo, không chồng chéo, không “phê duyệt theo cảm tính”.

Thứ hai, thị trường đủ lớn: có quy mô tiêu thụ sản phẩm công nghệ, không bị bóp méo hay bị chặn bởi độc quyền

Thứ ba, không gian phát triển mở: bao gồm không gian ngành, không gian địa lý và không gian cạnh tranh

Thứ tư là nguồn vốn rẻ và dòng vốn lưu thông: tín dụng - thị trường vốn - tư nhân - FDI phải kết nối, thay vì chỉ đứng yên trong "đầu cơ" đất hoặc vàng

Thứ năm, một điều kiện rất quan trọng là cơ chế chia sẻ rủi ro: doanh nghiệp được hưởng lợi khi thành công và không “chết luôn” khi thất bại. Nói nôm na là "lợi ích thì hài hòa, rủi ro phải chia sẻ".

Khi không có 5 yếu tố này, đổi mới công nghệ trở thành một “chi phí xa xỉ” và khẩu hiệu chỉ dừng ở khẩu hiệu.

“Thái Lan từng vượt Việt Nam rất xa. Nhưng vài năm gần đây Việt Nam đã tiệm cận. Lý do đơn giản là Việt Nam chưa chạm bẫy nên còn dư địa tăng. Nếu cứ theo quán tính hiện tại, khả năng rơi vào bẫy giống họ là rất cao”.

TS. Huỳnh Thanh Điền

Ông có đề xuất gì để Việt Nam vượt qua "bẫy" này?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Giải pháp quan trọng nhất để Việt Nam tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình không nằm ở việc tiếp tục thu hút FDI theo mô hình cũ, mà ở việc hình thành “năng lực chuyển hóa quốc gia”, khái niệm được hiểu là khả năng của nhà nước trong việc sử dụng thể chế và thiết kế không gian phát triển để tạo ra dư địa tăng trưởng mới. Năng lực này dựa trên ba trụ chính.

Thứ nhất là thể chế, yếu tố đóng vai trò “hạ tầng của tăng trưởng”. Nếu thể chế không thay đổi, doanh nghiệp khó có thể gia nhập hoặc mở rộng, các dự án triển khai chậm và hiệu quả kém.

Thứ hai là không gian phát triển mới, được tạo ra thông qua tái phân vùng, quy hoạch lại lãnh thổ, hình thành hành lang đô thị - công nghiệp mới. Khi có dư địa mới, Việt Nam có thể ưu tiên thu hút doanh nghiệp công nghệ cao thay vì dòng FDI công nghệ lạc hậu như trước.

Thứ ba là việc thu hút các mắt xích giá trị cao. Việt Nam cần nhắm vào các khâu như nghiên cứu - thiết kế - thương hiệu - phân phối - ra quyết định trong chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia, thay vì chỉ nhận các công đoạn lắp ráp giá trị thấp.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần kiến tạo ngành nghề và lĩnh vực mới, phục vụ hai xu thế lớn là chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Cuối cùng, chính sách hội nhập cũng cần điều chỉnh: vừa duy trì cam kết đa phương, vừa chủ động thỏa thuận song phương, đồng thời xây dựng hình ảnh một Việt Nam ổn định, thân thiện, cởi mở và trung lập để thu hút dòng vốn và công nghệ mới.

Nếu tiếp tục thu hút FDI kiểu cũ, không gian sản xuất sẽ sớm bị lấp đầy bởi các nhà máy công nghệ thấp, khiến việc “nâng tầng giá trị” về sau gần như bất khả thi. Vì vậy, chiến lược đúng phải là chuyển thẳng lên công nghệ cao từ đầu, thay vì lặp lại mô hình của các nền kinh tế ASEAN đi trước.

Nếu xây dựng được “năng lực chuyển hóa quốc gia”, Việt Nam có thể bỏ qua tầng trung gian của chuỗi giá trị và bước thẳng lên công đoạn giá trị cao.

Kích hoạt động lực tư nhân, hướng dòng vốn đầu cơ vào sản xuất

Mục tiêu 2030 - 2045 không chỉ là những con số về GDP, mà là sự thay đổi về chất của nền kinh tế. Vậy theo ông, đâu là 'nút thắt' lớn nhất về thể chế và nguồn nhân lực cần phải tháo gỡ ngay trong giai đoạn 5 năm tới để tạo đà cho cú nhảy vọt về năng suất lao động?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Theo tôi, trọng tâm của cải cách thể chế không nằm ở việc ban hành thêm nghị quyết, mà ở việc kích hoạt động lực của khu vực kinh tế tư nhân. Đây mới là điểm cốt lõi.

Lịch sử cho thấy các quốc gia phát triển khi quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh được bảo đảm, từ đó kích thích đổi mới sáng tạo và tích lũy tài sản trong khu vực tư nhân. Việt Nam có nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, nhưng còn thiếu tính nhất quán khi song song vẫn duy trì quan điểm doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt. Điều này khiến tín hiệu chính sách trở nên mơ hồ.

Theo quan điểm được nêu, nguyên tắc nên là: việc nào tư nhân làm được thì để tư nhân làm, nhà nước làm luật, tháo gỡ điểm nghẽn và đồng hành; chỉ can thiệp khi lĩnh vực tư nhân không làm hoặc thất bại.

Thực tế thời gian qua cho thấy nhiều tập đoàn tư nhân đã tự mở rộng chuỗi giá trị khi có cơ hội, thể hiện sự linh hoạt mà khu vực nhà nước khó có được.

Một vấn đề khác là thiếu cơ chế cộng hưởng giữa nhà nước - tư nhân - FDI. Hiện nay, nhà nước nắm các hạ tầng kinh tế, FDI nắm sản xuất - xuất khẩu, còn tư nhân chủ yếu hoạt động trong bất động sản, ngân hàng và dịch vụ.

Trạng thái này không tạo được nền công nghiệp tự chủ. Theo đó, cần tạo điều kiện để tư nhân tham gia vào khâu sản xuất, liên kết và chia việc với FDI, trong khi nhà nước tập trung kiến tạo hạ tầng và không gian phát triển.

Điều tích cực là định hướng tự chủ và tự cường đã được xác lập trong nghị quyết Đại hội Đảng. Nhưng để tự cường thực chất, Việt Nam cần làm chủ công nghệ ở một số ngành lõi. Nếu tư nhân có khả năng làm thì tạo hệ sinh thái cho tư nhân dẫn dắt; nếu tư nhân chưa làm được thì cần có tập đoàn Nhà nước đủ mạnh để đảm nhận. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc làm chủ công nghệ bởi đây là yếu tố không chỉ củng cố năng lực kinh tế trong thời bình mà còn hỗ trợ năng lực quốc phòng khi có tình huống bất trắc.

Việc tập trung nguồn lực cho hạ tầng chiến lược, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam và các hạ tầng dữ liệu quốc gia, đòi hỏi một nguồn vốn khổng lồ. Vậy đâu là giải pháp huy động nguồn lực xã hội (PPP) hiệu quả nhất để chúng ta không chỉ có "hạ tầng cứng" hiện đại mà còn phát triển được "hạ tầng mềm" đồng bộ vào năm 2030, thưa ông?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Vấn đề của Việt Nam không nằm ở chỗ thiếu nguồn lực, mà nằm ở cách kích hoạt và điều hướng dòng vốn. Nguồn vốn trong xã hội rất lớn, nhưng phần lớn đang nằm trong vàng, đất đai hoặc các tài sản không phục vụ sản xuất. Trên thực tế, để triển khai các chương trình phát triển hạ tầng (một trong những đột phá chiến lược) ngân sách nhà nước hiện chỉ đáp ứng chưa tới 20% nhu cầu vốn.

Do đó việc huy động tư nhân là tất yếu. Tuy nhiên, tư nhân chỉ bỏ vốn khi có lợi ích rõ ràng. Với các dự án PPP, nguyên tắc cần được thiết lập là “lợi ích hài hòa - rủi ro chia sẻ”. Chỉ khi cơ chế này vận hành, mới có thể thu hút được dòng vốn tư nhân vào hạ tầng.

Một điểm quan trọng khác là phải chuyển vốn xã hội từ trạng thái “giữ” sang trạng thái “sản xuất”. Bởi lẽ, sức mạnh của nền kinh tế không nằm ở lượng vốn hay lượng tài nguyên, mà ở tốc độ luân chuyển của dòng tiền. Khi vốn chảy vào đầu cơ vàng hoặc đầu cơ đất, tài sản đó không tạo ra hàng hóa, dịch vụ hay việc làm. Điều này khiến doanh nghiệp thiếu vốn để mở rộng sản xuất và đầu tư công nghệ.

Thực tế, dòng vốn trong dân hiện nay chủ yếu chảy vào vàng và đất, những tài sản không đi vào sản xuất, không tạo ra hàng hóa hay năng suất, dẫn tới “đóng băng” nguồn lực xã hội. Muốn điều hướng dòng vốn vào sản xuất, nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho người làm ăn, bởi chỉ khi kinh tế tư nhân được khơi thông, người dân mới mang tài sản đi đầu tư thay vì tích trữ.

Một điểm nghẽn lớn khác là thiếu cơ chế chống đầu cơ, đặc biệt trong bất động sản. Việc để lượng lớn đất “nằm chết” trong tay một số ít người khiến giá thuê cao, doanh nghiệp thiếu đất sản xuất, còn nền kinh tế thiếu dòng vốn. Có thể thấy rằng, không thể giải quyết triệt để bài toán này nếu không đánh thuế đầu cơ. Bởi lẽ, khoản thuế sẽ khiến tài sản bị găm giữ trở nên đắt đỏ, buộc dòng vốn quay lại thị trường sản xuất, thay vì “nằm im” trong đất đai hoặc vàng.

Theo ông, chúng ta có cần cơ chế 'đặc thù' hoặc 'vượt trội' nào để biến thể chế từ 'lực cản' thành 'động lực' dẫn đường cho kinh tế trong giai đoạn sắp tới?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Tôi nói thật, câu chuyện “cơ chế đặc thù” cho Hà Nội hay TP.HCM đã được trao nhưng hiệu quả rất hạn chế. Lý do là các quyền được giao cuối cùng vẫn phải thực thi theo hệ thống pháp luật hiện hành, liên quan tới nhiều bộ ngành. Nói thật lòng, cho mà không được sử dụng thì cũng như không. Chính vì vậy, theo tôi, thay vì tiếp tục xin cơ chế đặc thù, cần một cách tiếp cận khác: ban hành Luật đô thị, áp dụng riêng cho các cực tăng trưởng lớn, cho phép vận hành theo một chế độ pháp lý phù hợp với tính chất đô thị.

Đó không phải đặc thù, mà là luật. Và đã là luật thì phải tuân thủ và sẽ có hướng giải quyết cho những vướng mắc. Trên thực tế, theo tôi điểm nghẽn lớn hơn hiện nằm ở đầu tư hạ tầng, nơi một dự án phải chịu sự điều chỉnh của hơn chục luật và nhiều nghị định, mỗi loại lại có một cơ quan chủ quản. Hệ quả là trình tự thủ tục kéo dài, rủi ro pháp lý lớn, còn tiến độ thi công thì chậm.

Chính vì vậy, tôi cho rằng cần sớm có Luật đầu tư hạ tầng, một khung pháp lý thống nhất, phủ lên tất cả các luật khác trong phạm vi triển khai hạ tầng, để dự án có thể “chạy” liền mạch từ quy hoạch, đất đai, tài chính, môi trường đến giải ngân.

Bởi lẽ, nếu hạ tầng là đột phá, thì thể chế phải mở đường cho nó. Có hạ tầng thông suốt, mới huy động được nguồn lực xã hội cho nền kinh tế quốc gia.

Xin cảm ơn ông!

VinaCapital: Lãi suất huy động có thể tiệm cận 7% trong năm 2026

VinaCapital: Lãi suất huy động có thể tiệm cận 7% trong năm 2026

Tài chính -  3 tháng
Sau giai đoạn đầu ưu tiên phục hồi và tăng trưởng kinh tế, chính sách được điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn để hỗ trợ tỷ giá.
VinaCapital: Lãi suất huy động có thể tiệm cận 7% trong năm 2026

VinaCapital: Lãi suất huy động có thể tiệm cận 7% trong năm 2026

Tài chính -  3 tháng
Sau giai đoạn đầu ưu tiên phục hồi và tăng trưởng kinh tế, chính sách được điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn để hỗ trợ tỷ giá.
VinaCapital: Lãi suất huy động có thể tiệm cận 7% trong năm 2026

VinaCapital: Lãi suất huy động có thể tiệm cận 7% trong năm 2026

Tài chính -  3 tháng

Sau giai đoạn đầu ưu tiên phục hồi và tăng trưởng kinh tế, chính sách được điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn để hỗ trợ tỷ giá.

Chính sách mới miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Nghị định 20/2026

Chính sách mới miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Nghị định 20/2026

Sổ tay quản trị -  3 tháng

Nhiều chính sách mới về miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Nghị định 20/2026 tạo đòn bẩy cho kinh tế tư nhân và doanh nghiệp.

Một 'khí thế khác thường' đang xuất hiện với kinh tế Việt Nam

Một 'khí thế khác thường' đang xuất hiện với kinh tế Việt Nam

Leader talk -  3 tháng

Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một “thế” thuận lợi để xoay chuyển mạnh mẽ, tạo đà cho tăng trưởng bứt phá trong kỷ nguyên mới, theo nhìn nhận của PGS.TS Trần Đình Thiên.

Thuế hộ kinh doanh: Chọn tính trên thực tế lợi nhuận hay doanh thu?

Thuế hộ kinh doanh: Chọn tính trên thực tế lợi nhuận hay doanh thu?

Leader talk -  1 ngày

Chuyên gia thuế Lê Văn Tuấn cho rằng, chính sách thuế hộ kinh doanh nên dựa trên khả năng tạo lợi nhuận thực tế thay vì chỉ nhìn vào doanh thu của hộ kinh doanh.

Tăng trưởng hai con số và phép thử nội lực doanh nghiệp Việt

Tăng trưởng hai con số và phép thử nội lực doanh nghiệp Việt

Leader talk -  5 ngày

Phía sau mục tiêu tăng trưởng hai con số là phép thử về nội lực của doanh nghiệp Việt trước bước chuyển mình mang tính "sinh tử", đưa nền kinh tế bước vào nhịp tăng trưởng cao.

Công nghệ lõi cần 'môi trường đủ tin cậy' để hút vốn lớn

Công nghệ lõi cần 'môi trường đủ tin cậy' để hút vốn lớn

Leader talk -  1 tuần

Việc xác lập một cơ chế đầu tư mạo hiểm có sự dẫn dắt của vốn Nhà nước đang tạo ra một tiền lệ chưa từng có trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam.

Từ Hải Phòng nhìn về quản trị không gian công nghiệp thời đại mới

Từ Hải Phòng nhìn về quản trị không gian công nghiệp thời đại mới

Leader talk -  1 tuần

Quy hoạch giờ đây không còn là quá trình tuyến tính kết thúc bằng những bản vẽ đóng khung, cứng nhắc mà đòi hỏi một cách tiếp cận mang tính hệ thống và tuần hoàn.

'Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì phải chăm lo cho người lao động'

'Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì phải chăm lo cho người lao động'

Leader talk -  2 tuần

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh chăm lo cho công nhân không chỉ là hỗ trợ một phần vật chất trong dịp lễ, Tết; mà quan trọng hơn là tạo việc làm ổn định, thu nhập tốt hơn, môi trường lao động an toàn hơn, nhà ở tử tế hơn, trường học thuận lợi hơn, dịch vụ y tế gần hơn, đời sống văn hóa tinh thần phong phú hơn.

Cơ chế đặc thù cho dự án điện khí vẫn tiếp tục tắc

Cơ chế đặc thù cho dự án điện khí vẫn tiếp tục tắc

Tiêu điểm -  57 phút

Kiến nghị của doanh nghiệp về cơ chế đặc thù cho dự án điện khí chỉ được Bộ Công thương ghi nhận, chưa đưa vào quy định trong dự thảo Luật Điện lực sửa đổi.

Quảng Ninh giữ vững ngôi á quân SIPAS 2025

Quảng Ninh giữ vững ngôi á quân SIPAS 2025

Tiêu điểm -  1 giờ

Quảng Ninh tiếp tục đứng thứ hai toàn quốc về chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025.

FUTA Residence và bài toán giá trị bền vững của bất động sản sở hữu lâu dài ven biển Đà Nẵng

FUTA Residence và bài toán giá trị bền vững của bất động sản sở hữu lâu dài ven biển Đà Nẵng

Bất động sản -  1 giờ

FUTA Residence chính thức bước vào giai đoạn bàn giao căn hộ sau nghiệm thu, mở ra chuẩn sống quốc tế và giá trị sở hữu lâu dài ven biển Đà Nẵng.

Giới hạn tăng trưởng của Nhựa Thuận Đức

Giới hạn tăng trưởng của Nhựa Thuận Đức

Doanh nghiệp -  1 giờ

Đòn bẩy tài chính gia tăng áp lực, biên lợi nhuận mỏng cùng sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành đã đặt Nhựa Thuận Đức vào bài toán khó về chất lượng tăng trưởng dài hạn.

Đã có kịch bản xử lý khoản lỗ 44.800 tỷ đồng của EVN

Đã có kịch bản xử lý khoản lỗ 44.800 tỷ đồng của EVN

Tiêu điểm -  2 giờ

Quy định về giá bán lẻ điện trong dự thảo Luật Điện lực sửa đổi nếu được thông qua, khoản lỗ 44.800 tỷ đồng cộng dồn của EVN sẽ được xử lý.

Sớm cấp phép các sàn tài sản số trong quý III/2026

Sớm cấp phép các sàn tài sản số trong quý III/2026

Tài chính -  2 giờ

Với 5 hồ sơ hợp lệ đầu tiên, Bộ Tài chính kỳ vọng có thể cấp phép và vận hành các sàn giao dịch tài sản số, tài sản mã hóa ngay trong quý III.

Sau bất động sản và năng lượng, T&T Group của Bầu Hiển đang tăng tốc trên đường đua logistics

Sau bất động sản và năng lượng, T&T Group của Bầu Hiển đang tăng tốc trên đường đua logistics

Doanh nghiệp -  2 giờ

Sau bất động sản, năng lượng, T&T Group đang tăng tốc trong lĩnh vực logistics thông qua hàng loạt dự án cảng biển, siêu cảng cạn, cao tốc, sân bay và vận tải hàng hóa hàng không. Đằng sau các mảnh ghép này là tham vọng tham gia sâu hơn vào bài toán tổ chức chuỗi cung ứng và hạ tầng logistics của Việt Nam.

Đọc nhiều