Khởi nghiệp
Làm việc từ xa không đơn giản là mang máy tính về nhà làm việc
Mô hình làm việc từ xa đòi hỏi ý thức tự giác của nhân viên rất lớn. Về phía lãnh đạo đòi hỏi tư duy quản lý, đánh giá nhân viên cũng thay đổi, không phải quản lý theo thời gian làm việc hàng ngày mà tập trung vào OKR, KPI và chất lượng làm việc.
Trước bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp trong nước phải đối diện với 2 thử thách lớn, là việc chuyển dịch từ mô hình làm việc truyền thống sang làm việc từ xa, cũng như tận dụng nguồn lực công nghệ để vận hành doanh nghiệp.
Ông Hùng Đinh - nhà sáng lập và CEO của các công ty JoomlArt, Designbold, đồng thời là Chủ tịch Quỹ đầu tư mạo hiểm VIC Partners đã nhanh chóng đưa ra quyết định cho toàn bộ nhân viên chuyển dịch sang làm việc tại nhà.
Ông cho biết, hình thức làm việc từ xa tuy không còn mới tại các quốc gia phát triển, nhưng tại Việt Nam, chỉ đến khi dịch bùng phát, mọi người mới thật sự có cái nhìn đúng mức về hình thức làm việc này.
Tại Việt Nam, với các doanh nghiệp truyền thống, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), việc số hoá doanh nghiệp là điều không hề dễ dàng.
Đầu tháng 3/2020, ông Hùng thành lập một cộng đồng mang tên Vietnam Remote Workforce (VRW), nhằm chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, và các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ cho công tác dịch chuyển sang mô hình làm việc từ xa.
Chỉ sau ít ngày, cộng đồng này đã thu hút sự tham gia của gần 4.000 doanh nghiệp , với sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp, startup công nghệ hàng đầu như: Designbold, ELSA, KiotViet, Base, Gotit, 1Office, LadiPage, TopCV, Haravan, Printgo, Matbao, Nhanhoa…
Bản thân ông Hùng từng có kinh nghiệm xây dựng nền tảng cho người làm việc tự do liên quan đến Opensource CMS với hơn 400.000 thành viên làm việc hoàn toàn trực tuyến, trong đó 30% là freelancer từ Việt Nam, doanh thu hàng tháng khoảng 400.000 USD.
Nền tảng này được quản lý bởi 2 nhân sự trong suốt 4 năm. Ngoài ra, ông cũng từng có kinh nghiệm quản lý toàn bộ 800.000 khách hàng, 30 - 80 nhân viên, cộng tác viên trong và ngoài nước, sử dụng chỉ một nền tảng duy nhất để tập trung toàn bộ công việc.
Là người nghiên cứu về hình thức làm việc từ xa, cũng là người khởi xướng thành lập cộng đồng "làm việc từ xa", hẳn ông đã thấy được nhiều lợi ích mà mô hình này mang lại?
Ông Hùng Đinh: Thực ra làm việc từ xa hiểu đơn giản là hình thức làm việc mà trong đó các thành viên ở các không gian khác nhau, có thể là địa điểm khác nhau, thành phố khác nhau, thậm chí ở những đất nước khác nhau.
Lợi ích lớn nhất mà mô hình này mang lại chính là giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều nhân sự giỏi ở các vị trị trí địa lý khác nhau, thậm chí là trên toàn thế giới, mà sẽ rất tốn kém nếu đưa các nhân sự đó về cùng một nơi làm việc.
Ngoài tiết kiệm được chi phí nhân sư, lợi ích tiếp theo chính là giúp cho các doanh nghiệp tận dụng được nguồn lực bản địa để tiếp cận được thị trường một cách tốt hơn.
Thêm nữa, việc các nhân sự ở những vùng miền văn hóa khác nhau cùng cộng tác sẽ đem đến cho doanh nghiệp những hơi thở văn hóa mới. Đây có thể chính là một trong yếu tố cạnh tranh về môi trường làm việc.
Liệu những lợi ích nhìn thấy ngay như tiết kiệm chi phí văn phòng, hoặc chi phí mặt bằng có thể coi là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không, thưa ông?
Ông Hùng Đinh: Thực ra nó có thể coi là một lợi ích thêm vào, chứ không phải là lợi thế cạnh tranh đáng kể, vì đối với một số lĩnh vực đặc thù thì có những bất lợi nhất định khi làm việc từ xa, mà đổi lại so với chi phí thuê mặt bằng thì không đáng.
Mặt khác, nó còn tùy thuộc vào mô hình hoặc lĩnh vực kinh doanh. Ví dụ như kinh doanh nhà hàng, cafe, khách sạn, những loại hình kinh doanh phụ thuộc vào yếu tố không gian hoặc cần có sự trải nghiệm của khách hàng ở tại địa điểm đó thì mặt bằng lại là yếu tố quan trọng.
Vậy có nghĩa, những loại hình kinh doanh mà không phải tương tác trực tiếp với khách hàng thì sẽ phù hợp hơn?
Ông Hùng Đinh: Tương tác thì cũng có nhiều loại hình tương tác, ở đây mình phải hiểu bản chất là cần có sự hiện diện của khách hàng thì hoạt động kinh doanh mới có thể diễn ra, còn ví dụ tương tác để chăm sóc khách hàng hay tư vấn… thì "làm việc từ xa" vẫn có thể tiến hành được. Hoặc những sản phẩm mà có thể thông qua shipper để giao đến khách hàng thì vẫn hoàn toàn phù hợp.
Theo ông, vì sao các doanh nghiệp Việt Nam chưa áp dụng nhiều hình thức làm vậy như vậy? Là do không phù hợp với tính chất ngành nghề, hay do doanh nghiệp chưa nhìn thấy những lợi ích thực sự?
Ông Hùng Đinh: Thị trường mà các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận đang lệ thuộc vào vị trí địa lý quá lớn, các doanh nghiệp trong nước thường sẽ bán cho những khách hàng ở cùng vị trí địa lý với doanh nghiệp mình, đặc biệt lại chỉ tập trung phát triển thị trường trong nước. Cho nên hình thức "làm việc từ xa" chưa mấy phát triển.
Doanh nghiệp nước ngoài có xu hướng mở rộng thị trường ra khu vực nhiều, họ biết tận dụng lợi thế của nhiều hệ sinh thái như: sàn TMĐT, hệ thống xuất nhập khẩu, dịch vụ giao hàng từ xa, thanh toán online, chăm sóc khách hàng tự động… để tiến hành hoạt động kinh doanh, cho nên hình thức "làm việc từ xa" cũng trở nên phổ biến hơn.
Để triển khai thành công mô hình "làm việc từ xa", doanh nghiệp cần lưu tâm đến yếu tố nào, thưa ông?
Ông Hùng Đinh: Điểm đầu tiên là phải hình thành được văn hóa và tư duy "làm việc từ xa", còn công cụ thực ra chỉ chiếm 10-20%. Chúng ta phải hiểu, làm việc từ xa không đơn thuần là mang máy tính về nhà làm việc, nó đòi hỏi ý thức tự giác của nhân viên rất lớn. Về phía lãnh đạo đòi hỏi tư duy quản lý phải khác đi, phương thức đánh giá nhân viên cũng thay đổi, không phải quản lý theo thời gian làm việc hàng ngày mà tập trung vào quản lý OKR, quản lý KPI và chất lượng làm việc.
Nói chung, phương pháp luận quản trị thì khá nhiều, nhưng sự khác biệt lớn nhất giữa "làm việc từ xa" và làm việc truyền thống chính là đặt nhẹ việc chấm công. Chúng ta cần tập trung vào kết quả, xem hàng ngày hàng tuần, các thành viên đóng góp được gì cho sự phát triển của công ty. Từ đó dẫn đến việc chúng ta cần có những công cụ để quản trị và đo lường kết quả, hệ thống đánh giá phải rất minh bạch rõ ràng.
Có ý kiến cho rằng, "làm việc từ xa" sẽ chỉ là một trào lưu nổi lên trong thời điểm dịch bệnh Covid-19 bùng phát, ông có đồng tình với quan điểm này?
Ông Hùng Đinh: Đối với các công ty công nghệ, hoặc đối với những sản phẩm dịch vụ không cần gặp trực tiếp khách hàng mà vẫn tiến hành giao dịch được, thì "làm việc từ xa" chắc chắn sẽ được nhiều doanh nghiệp cân nhắc để đưa vào hoạt động.
Chỉ những loại hình kinh doanh cần sự hiện diện của khách hàng, cần sự tương tác trực tiếp, cần có những trải nghiệm tại không gian thực tế thì hình thức làm việc truyền thống vẫn dành được nhiều lợi thế. Và điều quan trọng là qua đại dịch Covid-19, thói quen "làm việc từ xa" sẽ bắt đầu được hình thành, tư duy của các nhà lãnh đạo sẽ thay đổi.
Mô hình làm việc từ xa cần có văn hóa, quy trình và công nghệ
Ngành thực phẩm chuyển mình trong mùa dịch
CEO Sói Biển cho biết, có những ngày cao điểm sức mua tại chuỗi Sói Biển tăng 500%, tổng lượng đặt hàng online cao gấp 3-5 lần, toàn công ty làm việc từ 5h sáng đến tận khuya để nhập, bán hàng.
CEO Grab Việt Nam: Công nghệ giúp đẩy lùi dịch bệnh
Trong giai đoạn hạn chế di chuyển vì dịch bệnh, Grab Việt Nam đưa ra nhiều sáng kiến giúp người dùng mua sắm an toàn, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu hằng ngày.
NextTech đầu tư nửa triệu USD vào startup Bot Bán Hàng
Với mức tăng trưởng khách hàng trong năm lên đến hơn 5000%/năm, Công ty cổ phần công nghệ Chatbot Việt Nam nhận được nhiều lời mời rót vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đầu năm 2020, các nhà sáng lập đã thỏa thuận và nhận khoản đầu tư từ quỹ Next100 của Shark Bình.
Startup Việt xoay chuyển nghịch cảnh trong Covid-19 thế nào?
Làm thế nào để startup sống còn qua Covid-19? Có "điểm sáng" nào để các doanh nghiệp trẻ, với nguồn lực hạn chế, có thể lách khe cửa hẹp để duy trì tăng trưởng?
Startup đồ chơi giáo dục Việt kiếm triệu USD trên đất Mỹ
Bắt đầu kinh doanh từ năm 2020 thông qua website công ty và các nền tảng thương mại điện tử như Amazon, Etsy với thị trường chính là Mỹ, Úc và Canada, đến năm 2023, doanh thu Kalotoys là 95 tỷ đồng.
Tiến sĩ hóa học muốn tạo cuộc cách mạng về chất tẩy rửa
Tiến sĩ hóa học Vũ Thị Tần hiện là giảng viên đại học Bách Khoa Hà Nội, đã sở hữu cho mình 17 sáng chế về vật liệu và xử lý bề mặt.
Startup bán mì ramen cấp đông gọi vốn 2,5 tỷ đồng
Seichou Machi Ramen kêu gọi đầu tư 2,5 tỷ đồng cho 12,5% cổ phần, với hai mô hình kinh doanh là chuỗi bán lẻ và sản xuất sản phẩm đông lạnh.
Thị trường mua trước trả sau đón tay chơi lớn
Thị trường mua trước trả sau đang trở nên "nóng" hơn cả, khi gần đây liên tục đón nhận sự tham gia của các tay chơi lớn.
Thị trường Fintech đã hết nóng?
Thay vì dồn dập các thương vụ đầu tư góp vốn như vài năm trước, thị trường fintech Việt Nam giờ đây đang trở nên phân hóa, tập trung vào hai mảng sản phẩm đầu tư và mua trước trả sau.
KBC bắt tay The Trump Organization: Cú hích định hình lại đường lối quản trị
Thương vụ hợp tác giữa KBC với The Trump Organization chỉ đơn thuần là bước đi trong ngành bất động sản hay còn những toan tính khác của doanh nghiệp ông Đặng Thành Tâm?
Những chướng ngại trên con đường bứt phá của kinh tế Việt Nam
Chiến tranh thương mại và kinh tế toàn cầu giảm tốc gây áp lực lên xuất khẩu, chuỗi cung ứng và tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Tập đoàn Bamboo Capital có tân chủ tịch hội đồng quản trị
Người được coi là cầu nối trong các dự án liên doanh, hợp tác quốc tế là ông Tan Bo Quan vừa được bầu làm chủ tịch hội đồng quản trị Tập đoàn Bamboo Capital.
Nhựa và cao su trước thách thức xanh hóa
Các ngành nhựa và cao su đang chủ động xanh hóa, áp dụng kinh tế tuần hoàn để đáp ứng yêu cầu thị trường cũng như các quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp logistics đối mặt áp lực phải xanh hoá
Logistics xanh không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc, nếu không chuyển đổi doanh nghiệp ngành này sẽ bị loại khỏi “sân chơi” toàn cầu.
Chương mới của làn sóng đầu tư Hoa Kỳ vào Việt Nam
Các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang tăng mức độ quan tâm và mở rộng đầu tư tại Việt Nam, tập trung vào công nghệ cao, năng lượng và chuỗi cung ứng, đánh dấu một bước tiến mới.
Bất động sản cởi trói, nợ xấu ngân hàng thoái lui
Các chuyên gia tài chính đều chung góc nhìn tích cực về sự cải thiện chất lượng tài sản ngân hàng cùng sự hồi phục chung của nền kinh tế, đặc biệt với những tháo gỡ ở nhóm ngành bất động sản.